Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, thầy Lê Đình Kỵ chuyển về
Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh dạy Ngữ văn. Thời gian từ 1956 đến
1978, thầy Kỵ làm Chủ nhiệm Bộ môn Lý luận văn học và Văn học Việt Nam (giai
đoạn 1971-1976). Sự nghiệp nghiên cứu chính là văn học Việt Nam hiện đại, những
vấn đề lý thuyết văn học, vấn đề phong cách tác giả văn chương… Thầy đã có nhiều
bài viết kịp thời về các sáng tác của các nhà thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu,
Huy Cận, Tế Hanh, Hoàng Trung Thông, Nông Quốc Chấn, Bằng Việt, Lưu Quang
Vũ, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo...
Ngay từ những năm tháng giảng dạy ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, cùng
với vốn chữ Hán và tiếng Pháp được trau dồi trước đó, thầy bắt đầu học tiếng Nga để
dịch thuật các sách tham khảo về lý luận văn học và văn học Xô viết. Thầy Lê Đình
Kỵ là một tấm gương hiếu học, kiên trì tự học, tự rèn luyện để trở thành một trí thức
tài năng; một nhà sư phạm mẫu mực, một nhà khoa học, một chuyên gia lý luận, phê
bình văn học hàng đầu ở nước ta; thầy cũng là một trong những người đầu tiên ở nước
ta tham gia xây dựng bộ giáo trình lý luận văn học được sử dụng ở nhà trường trong
điều kiện nghiên cứu và giảng dạy của đất nước còn thiếu rất nhiều tài liệu.
Trong sự nghiệp giảng dạy đại học gần 40 năm, bên cạnh đào tạo các thế hệ sinh
viên, hướng dẫn luận văn, luận án tiến sĩ, Giáo sư Lê Đình Kỵ đã công bố nhiều công
trình lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học quan trọng; những bài viết có tính học
thuật, gợi mở nhiều hướng nghiên cứu mới, được công bố trên các báo, tạp chí chuyên
ngành có tầm ảnh hưởng trong giới khoa học như: Phương pháp nghệ thuật (năm
1962); Đường vào thơ (năm 1968); Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn
Du (năm 1970); Cơ sở lý luận văn học - Tập 4 năm (1971); Thơ Tố Hữu (năm
1979); Tìm hiểu văn học (năm 1980); Thơ mới, những bước thăng trầm (năm
1988); Trên đường văn học (2 tập, năm 1995); Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn
học Việt Nam (năm 1998). Phê bình nghiên cứu văn học (năm 1999);… Nổi bật trong
số đó là công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, được khởi
thảo năm 1965 trong dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh nhà thơ lớn, xuất bản lần đầu
năm 1970 và đến nay đã in đến lần thứ tư.
Bên cạnh đó, Giáo sư còn tham gia biên soạn nhiều bộ giáo trình giá trị, đặt nền
tảng cho môn lý luận văn học, góp phần đào tạo nhiều thế hệ học trò thành đạt.
Nói về thầy Kỵ, nhiều thế hệ học sinh, sinh viên của thầy nhận xét: Đối với các
thế hệ học trò, thầy vừa nghiêm khắc, đòi hỏi cao về học thuật, nhất là về chuyện viết
lách; nhưng đồng thời cũng rất khoan hòa, độ lượng, hết lòng giúp đỡ trong nghề
nghiệp và cuộc sống. Trong sự nghiệp nghề giáo của mình, thầy đã phát hiện, dìu dắt
nhiều thế hệ học sinh, sinh viên thành danh như: Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân
Quỳnh, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân; Phó Giáo sư
Huỳnh Như Phương, PGS. Nguyễn Thị Thanh Xuân, PGS. Lê Tiến Dũng...
Với những cống hiến lớn lao cho nền văn học nước nhà, năm 1982 thầy được
phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú; năm 1984 được công nhận chức danh Giáo sư;
năm 1988 được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. Năm 1995, thầy được tặng
thưởng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến
chống Mỹ hạng nhất và Huân chương Lao động hạng nhất; năm 2001 nhận Giải