Kỷ niệm 200 năm Năm sinh của Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản (1823 - 2023)
Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản là một vị quan tài, đức dưới triều nhà Nguyễn, một
nhân cách cao đẹp, một học giả uyên bác và đồng thời là một nhà thơ lớn của dân tộc
Việt Nam ở thế XIX.
Nguyễn Tư Giản sinh năm 1823, tự là Tuân Thúc, hiệu là Vân Lộc và Thạch
Nông, người làng Du Lâm, tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Bắc
Ninh, nay là thôn Du Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Năm 21 tuổi, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), khoa Giáp Thìn,
niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844). Nguyễn Tư Giản được coi là vị Hoàng giáp nổi tiếng
nhất trong lịch sử khoa bảng, là vị quan phục vụ 7 đời vua triều Nguyễn (Thiệu Trị, Tự
Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh), trải qua những chức vụ
trọng yếu như: Hàn lâm viện Tu soạn; Tri phủ Ninh Thuận; Tập hiền viện Thị tộc; Kinh
Diên khởi cư chú; Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ tham dự Nội các Biện lý Đê chính sự
vụ; Hồng lô Tự Khanh; sung Phó sứ thứ nhất cùng Chánh sứ Lê Tuấn sang nhà Thanh
(1868); Lại bộ Thị lang; Tham tri quyền lĩnh Lại bộ Thượng thư (1872); Thự Lại bộ
Thượng thư; sung Cơ mật viện Đại thần (1873). Suốt gần 40 năm phụng sự cho đất
nước, ông đã để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực đời sống chính trị ngoại giao, kinh tế, xã
hội, văn hoá… của Việt Nam thời bấy giờ.
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, Nguyễn Tư Giản là vị quan có tài kinh bang,
nhưng lại sinh ra vào thời vận nước gặp muôn vàn khó khăn: thực dân Pháp xâm chiếm
đất nước; nội bộ triều đình Tự Đức phân hóa, quan lại đồng liêu, phần lớn lười biếng
cầu an; Vua Tự Đức thì yếu đuối, nhu nhược, thiếu tài lãnh đạo; bộ máy hành chính triều
Nguyễn quá cồng kềnh, kém hiệu lực. Mặc dù vậy, nhưng Nguyễn Tư Giản vẫn giữ
vững được lập trường, bản lĩnh tốt đẹp. Ông đã nhiều lần dâng sớ, làm các bài ứng chế
có nội dung cổ động cho việc canh tân đất nước. Trong đó, năm 1853, Nguyễn Tư Giản
viết bài “Ứng chế” đệ Vua Tự Đức nêu lên 6 cái tệ lớn của quan lại đương chức, mà
nhức nhối nhất là nạn tham nhũng và hiện tượng quan viên lười biếng, bên cạnh đó đặt
ra những điều cần phải làm ngay là thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, thay đổi
tình trạng kém hiệu quả của bộ máy Nhà nước... Để giảm bớt các tình trạng đã trở thành
tệ nạn, Nguyễn Tư Giản đề nghị thải bớt quan lại, nhất là những người kém tư cách,
không có năng lực, chọn lọc người tài năng vào các cơ quan Nhà nước, trả lương thích
đáng cho họ. Đặc biệt, cần đào tạo lại đội ngũ quan lại trực tiếp làm nhiệm vụ quản lý
hành chính, trước hết là những người giữ vai trò hành chính ở triều đình. Thực hiện ý
tưởng đó, Nguyễn Tư Giản đã cùng một số đình thần đề nghị vua Tự Đức mở các buổi
thuyết giảng các tác phẩm về thuật trị nước an dân của người xưa, nhằm trau dồi kiến
thức, nâng cao năng lực quản lý đất nước cho quan lại trong triều. Ngoài các buổi thuyết
giảng, Nguyễn Tư Giản còn đưa ra hình thức đào tạo mang tính chuyên sâu là “ngự chế”
và “ứng chế”. Ngự chế là nhà vua nêu một vấn đề bức xúc của đất nước để các quan
“ứng chế” - trình bày quan điểm cùng các kiến giải.
Năm 1878, Ông được triệu về Huế, trao chức Thị giảng học sĩ và ủy nhiệm phụ
trách việc khánh tiết và khảo duyệt bộ “Việt sử cương mục”.
Sau biến cố tại Kinh thành Huế năm Ất Dậu (1885), vua Hàm Nghi cùng đoàn
tùy tùng chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), vua Đồng Khánh lên thay, Nguyễn Tư Giản được
cử giữ chức Thị lang Bộ Hộ, nhưng sau đó ông cáo ốm, xin được từ quan về ở ẩn, dạy
học ở Phát Diệm (Ninh Bình) cho đến năm Canh Dần (1890) thì mất tại đây, thọ 67 tuổi.
Về lĩnh vực ngoại giao, Nguyễn Tư Giản có tham gia trong sứ bộ sang tiến cống
nhà Thanh (năm 1868). Mặc dù, chuyến đi sứ hết sức vất vả, công việc ứng tiếp rất