Dong Nai ghi dau nhung buoc chan nguoi linh

Dong Nai ghi dau nhung buoc chan nguoi linh

1 Page 1

▲back to top
ĐỒNG NAI GHI DẤU NHỮNG BƯỚC CHÂN NGƯỜI LÍNH
Xưa kia, vùng đất Mô Xoài, Bến Nghé, Đồng Nai, Gia Định là nơi các bậc tiền
nhân sớm vào định cư, khai sơn phá thạch, dựng làng lập ấp, đặt nền hành chính đầu
tiên ở xứ Nam Kỳ với dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn, mở mang bờ cõi đến sông
Tiền, sông Hậu, Rạch Giá, Hà Tiên, trở thành thủ phủ của xứ Nam Kỳ lục tỉnh với Gia
Định phủ, Gia Định trấn, Gia Định thành. Vốn có truyền thống yêu nước, chống giặc
ngoại xâm, nhân dân miền Đông Nam Bộ đã anh dũng khởi đầu cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, lập nên nhiều chiến công vẻ vang và phát triển thành
phong trào cách mạng rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến
tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945.
Ngay sau ngày giành được độc lập, nhân dân miền Đông Nam Bộ lại phải sớm
đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của thực dân Pháp, trường kỳ suốt 9
năm rồi tiếp nối 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Phát huy lợi thế của núi rừng
hiểm trở, rừng sác bạt ngàn, sông rạch dọc ngang, Đảng bộ miền Đông đã xây dựng
một hệ thống căn cứ địa cách mạng vững chắc, xây dựng và bảo vệ lực lượng, vừa là
hậu phương tại chỗ, vừa là bàn đạp tiến công địch rất hiệu quả, không chỉ đối với
phong trào cách mạng ở miền Đông mà còn góp phần đắc lực cho cả Nam Bộ trong hai
cuộc kháng chiến, tiêu biểu đó là vùng đất Đồng Nai anh dũng.
Dải đất Đồng Nai thiêng liêng của “Thành đồng Tổ quốc” mà trong chiến tranh là
các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, rồi Long Khánh còn in đậm nét biết bao sự tích anh hùng
của những con người Đồng Nai, của những con người khắp đất nước từ Cao - Lạng
đến mũi Cà Mau, về đây chiến đấu quyết tâm bảo vệ quê hương xứ sở của mình.
Truyền thống lao động cần cù và đấu tranh bất khuất của nhân dân trên đất Đồng Nai
lại được bồi đắp thêm cao và dày trong cả hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ. Biết bao nhiêu những người dân bình thường nhưng yêu nước và yêu
cách mạng, biết bao nhiêu chiến sĩ giải phóng vô danh đã ngã xuống trên từng tấc đất
trên từng gốc cây rừng, trong từng dòng sông, bờ biển của tỉnh Đồng Nai kiên cường
này. Họ không bị mất đi mãi mãi, chiến công của họ không hề bị mờ nhạt bởi thời
gian, họ không bị lãng quên vì ngay trên mảnh đất Đồng Nai này nhiều người đã đi
vào lịch sử, sống mãi với thời gian. Đó là những địa danh đã mang tên của một hay
nhiều chiến công lừng lẫy, tất cả họ tạo thành một Đồng Nai rất riêng. Ví như La Ngà,
Xuân Lộc, Biên Hòa... Sông núi thiêng của Tổ quốc ngàn đời yêu dấu đẹp tươi là vì có
họ, những dòng máu đỏ của họ đã làm cây cỏ thêm xanh tươi, thân thể của họ ngã
xuống làm đất đai thêm màu mỡ.
Tỉnh Đồng Nai có vị trí chiến lược quan trọng trong chiến tranh. Nó nằm kế cận
về phía Đông và Đông Bắc của thành phố Sài Gòn, là cửa ngõ từ đại dương đi vào
thành phố này và cả miền Đông Nam Bộ, là chiến trường quyết liệt giành giựt cuối
cùng của đôi bên. Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều dựa vào quân đội nhà nghề được
trang bị đầy đủ, mạnh và hiện đại, có không quân làm chủ cả bầu trời, có tàu thuyền
khống chế cả mặt sông, mặt biển, có xe bọc sắt với sức công phá và chà nát đối
phương, nhất là Mỹ dựa vào cơ động nhanh và hỏa lực mạnh, vào đủ loại vũ khí tối tân
kể cả chất độc hóa học và bom giết người hàng loạt.
Suốt hơn 30 năm chiến tranh mà kẻ địch lớn mạnh hơn ta rất nhiều, người dân trên
đất Đồng Nai còn ghi dấu hàng loạt những chiến công bất hủ góp phần vào thắng lợi
cuối cùng vĩ đại của cả dân tộc. Trước tiên, thời 9 năm khi bộ đội cách mạng còn non
yếu đã có các trận đánh giao thông đã góp phần triệt tiêu con đường xe lửa Bắc - Nam
mà địch rất đề cao. Đó là các trận đánh lật đầu máy và các toa xe lửa, tiêu diệt địch thu

2 Page 2

▲back to top
vũ khí như trận Bảo Chánh, trận Bàu Cá năm 1947, trận đánh giao thông diệt hàng
chục xe và binh lính địch trong đoàn xe quân sự ở dốc Gây Cám trên lộ 23 cũng vào
năm ấy. Nhưng trận đánh giao thông lớn và vang dội nhất là trận La Ngà trên đường
20 năm 1948. Trong trận này ta đã phá hủy hàng mấy chục xe quân sự, diệt trên một
trăm lính lê dương thiện chiến, đại tá De Sarigné chỉ huy bán lữ đoàn lê dương số 13
và đại tá Pariust, phó tham mưu trưởng thứ nhất của Pháp ở Nam Đông Dương cùng
nhiều sĩ quan khác đền tội, ta bắt nhiều tù binh thu nhiều vũ khí. Đại tá Talles chỉ huy
khu vực Đồng Nai thượng sau đó phải tự tử. Năm 1950, tháp canh cầu Bà Kiên ở Tân
Uyên cùng 30 tháp canh khác trên các đường lộ ở tỉnh Biên Hòa bị san bằng trong
cùng một đêm báo hiệu sự thất bại của "chiến thuật Đờ La-tua" của Pháp. Để có chiến
công dâng Bác nhân ngày sinh lần thứ 63 của Người, chiến sĩ biệt động Đồng Nai đã
đốt trên hai triệu lít xăng ở kho xăng Biên Hòa. Cái tên Biên Hòa gắn với nhiều chiến
công oanh liệt của quân và dân Đồng Nai bắt đầu từ đó. Cũng tại Biên Hòa cuối năm
1956, khi mà Mỹ Diệm đã trắng trợn xé bộ Hiệp định Giơ-ne-vơ không chịu tổng
tuyển cử thống nhất đất nước, hơn 500 tù chính trị bị Diệm giam ở nhà lao Tân Hiệp
đã nổi dậy, tay không cướp súng, diệt địch, thoát về các tỉnh, bổ sung cho đội ngũ cán
bộ cách mạng đang cần. Rồi năm 1959, đặc công ta đã đột nhập trụ sở phái đoàn cố
vấn quân sự Mỹ tại thị xã Biên Hòa, diệt và làm bị thương trên chục tên. Nhưng cái tên
Biên Hòa trở thành nỗi khủng khiếp thực sự cho Mỹ ngụy và làm nức lòng quân dân
cả nước là vào năm 1964 khi mà trận đánh sân bay quân sự lớn nhất này xảy ra, phá
hủy hàng loạt máy bay tối tân Hoa Kỳ và tiêu diệt hàng trăm giặc lái và chuyên viên
kỹ thuật Mỹ. Nói về chiến công bất hủ này, báo chí thế giới bình luận: “Việt Cộng” ở
Biên Hòa đã thực hiện một điều lý tưỏng về chiến thuật quân sự là dùng những phương
tiện tối thiểu thu được kết quả tối đa và gây tác hại hàng chục triệu cho không quân
Mỹ. Sau Biên Hòa là tới Bình Giã đây chỉ là một xã bình thường ven rừng và ven lộ
Số 2 ở Bà Rịa nhưng sau khi chiến dịch thắng to của Quân giải phóng tại đây cuối năm
1964 đầu năm 1965 thì cái tên Bình Giã trở thành một trong những cái mốc chiến lược
trong cuộc chiến tranh chống Mỹ: “Nếu Ấp Bắc (Mỹ Tho) là một trận chống càn quét,
một thắng lợi lớn của quân và dân miền Nam đối với chiến thuật “trực thăng vận” của
địch, thì trận Bình Giã là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược lớn, đánh dấu sự phá sản
của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam”. Nếu
sân bay quân sự Biên Hòa là mục tiêu bị đánh đi đánh lại nhiều lần và thắng lợi to lớn
của đặc công, của pháo binh Quân giải phóng kết hợp với nhân dân tại chỗ suốt quá
trình cuộc chiến tranh thì khu kho Long Bình, tổng kho liên hợp lớn nhất của đế quốc
Mỹ ở Miền Nam Việt Nam cũng không tránh khỏi số phận như vậy. Mở đầu là trận
đánh tháng 6 năm 1966 mà tiếng nổ cúa mấy vạn đạn, pháo đã làm chấn động cả Biên
Hòa và Sài Gòn. Những trận liên tiếp xảy ra vào tháng 10, tháng tháng 12 cùng năm ấy
của đặc công đã đốt cháy và làm nổ tan nhiều khu kho trong Long Bình, tiêu hủy hàng
chục vạn bom, đạn và các phương tiện chiến tranh khác của Mỹ. Trong những năm
chiến tranh chống Mỹ không năm nào không có nổ và cháy ở sân bay Biên Hòa và
tổng kho Long Bình. Một kho lớn khác là kho bom Thành Tuy Hạ, nằm gần Sài Gòn
hơn, có địa thế hiểm trở và được phòng thủ chặt chẽ kiên cố hơn, cũng không tránh
khỏi bị tấn công. Mở đầu là trận đánh thắng tháng 4 năm 1972 của đội đặc công huyện
Nhơn Trạch và tiếp theo là trận tháng 12 của Đoàn 10 đã làm nổ tung hàng chục kho
bom, đạn của Mỹ, phối hợp rất đẹp với chiến dịch Nguyễn Huệ ta ở miền Đông Nam
Bộ.
Đầu năm 1975, sau thắng lợi lớn giải phóng toàn tỉnh Phước Long, rồi chiến dịch
Tây Nguyên nổi tiếng với thắng lợi đột phá Buôn Ma Thuột, giai đoạn cuối cùng của

3 Page 3

▲back to top
cuộc chiến tranh 30 năm sôi động mãnh liệt như triều dâng thác đổ khắp các chiến
trường miền Nam và gây kinh ngạc trên toàn thế giới. Quân dân Đồng Nai, hướng
Đông quan trọng tiến vào Sài Gòn đã đóng góp vào thắng lợi trọn vẹn bằng những
chiến công oanh liệt mà giá trị chiến lược không thể phai mờ. Từ tháng 3, chi khu
Định Quán, một cứ điểm trọng yếu trên đường QL 20 của địch bị diệt, ta làm chủ một
đoạn đường quan trọng này tạo điều kiện để giải phóng toàn tỉnh Lâm Đồng và nối
liền các hướng chiến dịch của ta quanh Sài Gòn. Thắng cảnh Định Quán với nhiều núi
đá chồng đẹp đẽ lại mang thêm ý nghĩa lịch sử vẻ vang. Tiếp theo là thị xã Xuân Lộc
của tỉnh Long Khánh nằm trên ngã ba đường số 1 từ Trung Bộ vào Biên Hòa và đường
số 2 đi Bà Rịa. Đây là cứ điểm trung tâm then chốt trên tuyến phòng thủ chiến lược
cuối cùng của ngụy quân do cố vấn Mỹ vạch ra mà Weyand tham mưu trưởng lục
quân Mỹ lên tận Xuân Lộc thị sát và duyệt với nhận xét: “Mất Xuân Lộc là mất Sài
Gòn”. Trận đánh Xuân Lộc diễn ra vô cùng ác liệt, quân địch tập trung trên một nửa
quân số và binh khí kỹ thuật có tại quân đoàn 3 của chúng vào đây và sử dụng tối đa
không quân bao gồm cả thả loại bom uy lực lớn nhất của Mỹ dùng trong chiến tranh
Việt Nam là loại bom dọn bãi và giết người hàng lọat (bom Daisy cutter và CBU).
Nhưng số phận Xuân Lộc đã được định đoạt khi quân ta chiếm được ngã ba Dầu Giây
và toàn bộ đường 20, cắt Xuân Lộc và toàn bộ quân địch còn lại ở đây ra khỏi tuyến
phòng thủ Sài Gòn. Frank Snepp, nhân viên CIA Mỹ đã viết: “Rạng ngày 21 các tuyến
phòng thủ cuối cùng của chính phủ tại Xuân Lộc sụp đổ” và chiều hôm đó Thiệu từ
chức vì tình hình quân sự, ông ta diễn tả là “tuyệt vọng”.
Suốt 30 năm chiến tranh giải phóng, tỉnh Đồng Nai một mảnh đất của Thành đồng
Tổ quốc, đã xứng đáng với Tổ quốc Việt Nam anh hùng. Quân dân Đồng Nai trải qua
bao gian khổ và hy sinh vô cùng to lớn đã xứng đáng là bộ phận của dân tộc Việt Nam
anh hùng. Truyền thống lao động kiên cường và chiến đấu anh dũng của Đồng Nai
ngày càng cao, càng dày trong chiến tranh nhất định sẽ phát triển không ngừng trong
xây dựng, cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hồng Hạnh