thắng bạo tàn của quân nhà Minh xâm lược. Nó học hỏi nghệ thuật đánh giặc thần tốc
và thắng lợi diệu kỳ của Nguyễn Huệ, chỉ một trận dẹp xong giặc Xiêm phía Nam, chỉ
một chiến dịch tiêu diệt 20 vạn quân Thanh phía Bắc, giữ độc lập tự do cho Tổ quốc,
cho nhân dân.
Trong ngày lễ thành lập - ngày 22 tháng 12 năm 1944, đội quân 34 người đã tuyên
đọc dưới lá Quốc kỳ mười lời thề danh dự, thể hiện bản chất một quân đội nhân dân
cách mạng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, đoàn kết một lòng, sẵn
sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Trong chỉ thị
thành lập, lãnh tụ Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
là đội quân đàn anh, mong cho chúng có những đội đàn em khác”. “Tuy lúc đầu quy
mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng
quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”.
Một chặng đường vẻ vang đã qua nhưng nhiệm vụ Quân đội nhân dân Việt Nam
chưa hoàn thành: nửa nước phía Nam còn bị giày xéo dưới gót sắt của thực dân xâm
lược mới. Như mong đợi của Bác Hồ và cũng là của dân tộc “đội quân đàn anh nhanh
chóng có những đội quân dàn em khác”, vì cách mạng còn cần. Quân giải phóng miền
Nam, một đội đàn em được thành lập từ núi rừng Tây Ninh để tiếp bước đội đàn anh
dấy binh từ núi rừng Cao Bằng thuở trước. Là “con một cha, nhà một nóc”, cùng cơ
sở tư tưởng cách mạng, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, từ trong phong trào cách
mạng của quần chúng mà ra để phục vụ lợi ích của nhân dân, của đất nước, Quân giải
phóng miền Nam Việt Nam đã ra đời.
Sau Hiệp nghị quốc tế Genever năm 1954, đại bộ phận Quân đội nhân dân ở miền
Nam tập kết ra miền Bắc, học tập trau dồi bản lĩnh và nghệ thuật đánh giặc, một số ít
ở lại miền Nam chuyển sang đấu tranh chính trị và cảnh giác đề phòng sự tráo trở cùa
đối phương. Phản bội sự cam kết quốc tế, tự ý xé bỏ Hiệp định, bỏ tổng tuyển cử dân
chủ, giặc đã dùng bạo lực quân sự, phát xít để chống lại chính trị và hòa bình, đàn áp
đẫm máu nhân dân miền Nam. Không khuất phục trước bất cứ bất công nào, đó là
truyền thống của dân tộc, nhân dân miền Nam lại tiến hành cuộc “Đồng khởi” nổi
tiếng giành chính quyền từng phần, chiến tranh du kích đồng hành với khởi nghĩa
quần chúng theo tư tưỏng Hồ Chí Minh, một lần nữa phát động và lan rộng khắp miền
Nam Việt Nam một cách thắng lợi. Đế quốc xâm lược không hiểu nổi sức mạnh vô
địch của nhân dân giác ngộ, một lần nữa gây chiến tranh quyết chiếm miền Nam Việt
Nam làm thuộc địa kiểu mới. Những chiến sĩ Vệ quốc đoàn năm xưa còn lại, cùng các
đội viên du kích trong Đồng Khởi, kết hợp với “chiến sĩ mùa thu” - những cán bộ tập
kết ra miền Bắc trở về - hợp thành những đơn vị Giải phóng quân kiên cường với ý
chí không lay chuyển: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Với những đơn vị chủ lực được xây dựng tại chỗ cùng với các đơn vị từ miền Bắc
vào, Quân giải phóng miền Nam lớn mạnh không ngừng. Mở đầu là trận Ấp Bắc vùng
Đồng Tháp Mười sình lầy đã thử sức Quân giải phóng trước chiến thuật tân kỳ trực
thăng vận và thiết xa vận của Mỹ - ngụy, qua đó xác định khả năng dùng chiến tranh
cách mạng chống lại được chiến tranh xâm lược. Tiếp theo là chiến dịch Bình Giã ở
khu vực rừng núi, chứng tỏ năng lực quân sự của nhân dân và Quân giải phóng có thể
thắng địch bất cứ chúng là ai.
Tiếp đó từ “chiến tranh đặc biệt” qua “chiến tranh cục bộ” là một cuộc leo thang
ghê gớm của máu và lửa, một thách thức với ý chí và tài năng, một cuộc đọ sức thần
kỳ giữa lương tri và tàn bạo. Chiến tranh mở rộng ra cả nước, toàn quân, toàn dân từ
Nam chí Bắc đều ra trận.