Bên cạnh sự thanh liêm, chính trực, cụ Đoàn luôn dũng cảm lên tiếng bênh vực,
bảo vệ quyền lợi của những người dân yếu thế trong xã hội. Năm 1925, trước việc báo
chí lên án cảnh phu đồn điền ở miền Nam bị bóc lột dã man, Chính phủ Nam triều đã
cử cụ Bùi Bằng Đoàn vào Nam bộ thanh tra các đồn điền cao su của Pháp. Trên cương
vị của mình, cụ đã tiến hành thanh tra thấu đáo, viết một bản báo cáo dày đến 100
trang bằng tiếng Pháp nêu bật lên những điều vô lý trong chính sách đối với phu đồn
điền. Những kiến nghị xác đáng của bản báo cáo đã được nhà đương cục chấp nhận,
giảm thiểu những chế độ hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su thời đó.
Năm 1925, mặc dù đang làm tri phủ Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) nhưng cụ vẫn
được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án cụ Phan Bội
Châu. Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, cụ Bùi Bằng Đoàn đã thông dịch rõ
ràng, trung thực những lời nói, lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó
toàn án đã không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức “an
trí ở Huế”.
Đầu năm 1933 cụ được bổ nhiệm làm Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, không lâu sau đó
khi Phạm Quỳnh tổ chức Nội các cụ được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Hình. Trong
12 năm ở kinh đô Huế cụ Bùi Bằng Đoàn trông nom việc xử kiện tại tất cả các tỉnh
Trung kỳ, chỉ đạo việc soạn thảo các luật cho Trung kỳ đều bằng tiếng Pháp, tiếng
Việt và dịch ra chữ Hán.
Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, vua Bảo Đại xuống chiếu thành lập Chính
phủ, cụ đã từ chối tham gia Chính phủ, cáo quan về quê. Tuy nhiên, Chính phủ Nam
triều đã mời cụ ở lại bằng được và giao cho cụ giữ chức Chánh thất Tòa Thượng thẩm
Hà Nội. Ở thời điểm “đêm trước” của cách mạng, tổ chức Việt Minh đã tiếp xúc và
mời cụ làm Hội trưởng Hội bảo vệ tù chính trị.
Trước tình hình chiến sự của đất nước, thù trong, giặc ngoài, để đoàn kết dân tộc và
tìm người tài đức phục vụ cách mạng, ngày 17/11/1945, Hồ Chủ tịch đã kiên trì viết
thư tay mời cụ Đoàn tham gia làm cố vấn Chính phủ, thành viên Ủy ban nghiên cứu kế
hoạch kiến thiết đất nước. Trong bức thư tay gửi cụ Đoàn có nội dung: “Thưa Ngài!
Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm
phong phú. Vậy nên, tôi mời Ngài làm Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong công
việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà dân tộc. cảm ơn và chúc Ngài mạnh khỏe. Kính
thư”. Nể phục và mến mộ tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Bùi Bằng Đoàn đã rời
quê đi theo cách mạng, trở thành 1 trong 10 người trong Ban Cố vấn của Chính phủ
lúc bấy giờ.
Ngày 6/1/1946, cụ Đoàn trúng cử Đại biểu Quốc hội Việt Nam tại tỉnh Hà Đông và
được cử làm Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, tương đương với chức
Tổng Thanh tra Chính phủ Việt Nam.
Ngày 2/3/1946, cụ được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội, tham gia thành lập
Hội Liên hiệp quốc dân. Ngày 8/11/1946, cụ Đoàn được cử làm Trưởng ban Thường
trực Quốc hội thay cho cụ Nguyễn Văn Tố.
Năm 1947-1948, cụ hoạt động ở chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1948, cụ Đoàn lâm
bệnh nặng ở Việt Bắc và được đưa về Liên khu 3 điều trị. Trong thời gian này, cụ vẫn
theo dõi tin tức và đóng góp ý kiến cho Quốc hội. Hòa bình lập lại, cụ Đoàn về Hà Nội
dưỡng bệnh. Ngày 13/4/1955, cụ qua đời tại Hà Nội.
Với công lao, sự cống hiến to lớn cho Đảng, cho Chính phủ, cụ Đoàn đã được tặng
thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng
Nhất.
2