Ky niem 130 nam ngay sinh cu Bui Bang Doan

Ky niem 130 nam ngay sinh cu Bui Bang Doan

1 Page 1

▲back to top
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh
Cố Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn (19/9/1889 - 19/9/2019)
Năm 2019, là năm cả nước có nhiều sự kiện trọng đại. Trong đó, sự kiện kỷ niệm
130 năm ngày sinh cụ Bùi Bằng Đoàn - Cố Trưởng ban Thường trực Quốc hội - Chủ
tịch Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khóa I) là sự kiện rất quan trọng,
thể hiện sự tri ân của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với một nhân sĩ yêu nước, vị
quan thanh liêm, đức độ, bậc tiền bối có trí tuệ lỗi lạc, cụ đã có công lao to lớn trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà hôm nay.
Bài viết xin được trình bày những cống hiến to lớn
của cụ Bùi Bằng Đoàn cho cách mạng Việt Nam, cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là dịp để
thể hiện tấm lòng biết ơn sâu sắc của thế hệ trẻ hôm
nay đối với cụ.
Cụ Bùi Bằng Đoàn, sinh ngày 19//9/1889, tại làng
Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc
Hà Nội) trong một gia đình truyền thống Nho học.
Ông nội là Tiến sĩ Bùi Tuấn, hàm Thái tử Thiếu bảo,
từng làm giám khảo các kỳ thi Hương, giữ chức Tả
Tham tri Bộ Binh kiêm tổng đốc tỉnh Bắc Ninh đánh
dẹp giặc Ngô Côn. Cha là Bùi Tập từng giữ chức Tuần
phủ tỉnh Thanh Hóa. Vợ cụ là bà Trần Thị Đức, cụ có
tám người con gái và hai người con trai là đại tá, nhà báo Bùi Tín, doanh nhân Bùi
Nghĩa – Chủ tịch hội Doanh nghiệp họ Bùi Việt Nam.
Cha mẹ cụ sớm mất, cả sáu anh em của cụ được nuôi dưỡng và học hành bởi người
chú dượng là Dương Lâm (cụ Thiếu bảo Vân Đình lúc đó làm Tham tri Nha Kinh lược
Bắc Kỳ).
Năm Bính Ngọ 1906, ba anh em cụ Đoàn đều ứng thí, kết quả là cụ Bùi Bằng Phấn
đỗ Tú tài, còn hai cụ Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn đỗ Cử nhân (khi đó cụ mới
17 tuổi). Ba anh em cụ được mệnh danh là Hà Đông tam bằng. Về sau Bùi Bằng
Thuận còn đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1916 cùng với Bùi Bằng Phấn đều làm quan Nam
triều đến hàng Tuần phủ, về hưu trước năm 1945.
Với tri thức uyên bác, cụ Bùi Bằng Đoàn còn thông thạo cả Pháp văn và Hán văn,
đến năm 1907, cụ thi vào trường Hậu Bổ tại Hà Nội.
Con đường quan lộ của cụ hanh thông và rạng rỡ. Vào năm Tân Hợi (1911), cụ tốt
nghiệp và được bổ làm Tri huyện, sau đó làm Tri phủ Xuân Trường (Nam Định), Án
sát tỉnh Bắc Ninh; Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình; rồi làm đến Thượng thư
bộ Hình của triều đình Huế, trong nội các của Phạm Quỳnh năm 1933, hàm Thái tử
Thiếu Bảo.
Cụ Bùi Bằng Đoàn được nhiều người biết đến là vị quan đức độ, thanh liêm, chính
trực, chăm dân. Trên công đường ở những nơi cụ làm quan, đều có treo một bảng
thông báo “không nhận quà biếu”. Với người nhà, Cụ Đoàn rất nghiêm khắc, cấm tiệt
việc nhận quà, nếu lỡ nhận rồi thì phải mang đi trả lại.
Lúc làm Tri phủ Xuân Trường (Nam Định) cụ Đoàn đã đề xuất và thực hiện việc
đắp đê Bạch Long ngăn nước mặn, tạo lập được một vùng lúa, dâu rộng lớn. Báo đáp
công đức của cụ Bùi Bằng Đoàn, người dân địa phương đã làm lễ tế sống vị “phụ mẫu
chi dân” trẻ tuổi ngay nơi nhậm chức.
1

2 Page 2

▲back to top
Bên cạnh sự thanh liêm, chính trực, cụ Đoàn luôn dũng cảm lên tiếng bênh vực,
bảo vệ quyền lợi của những người dân yếu thế trong xã hội. Năm 1925, trước việc báo
chí lên án cảnh phu đồn điền ở miền Nam bị bóc lột dã man, Chính phủ Nam triều đã
cử cụ Bùi Bằng Đoàn vào Nam bộ thanh tra các đồn điền cao su của Pháp. Trên cương
vị của mình, cụ đã tiến hành thanh tra thấu đáo, viết một bản báo cáo dày đến 100
trang bằng tiếng Pháp nêu bật lên những điều vô lý trong chính sách đối với phu đồn
điền. Những kiến nghị xác đáng của bản báo cáo đã được nhà đương cục chấp nhận,
giảm thiểu những chế độ hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su thời đó.
Năm 1925, mặc dù đang làm tri phủ Nghĩa Hưng (tỉnh Nam Định) nhưng cụ vẫn
được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án cụ Phan Bội
Châu. Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, cụ Bùi Bằng Đoàn đã thông dịch rõ
ràng, trung thực những lời nói, lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó
toàn án đã không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức “an
trí ở Huế”.
Đầu năm 1933 cụ được bổ nhiệm làm Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, không lâu sau đó
khi Phạm Quỳnh tổ chức Nội các cụ được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Hình. Trong
12 năm ở kinh đô Huế cụ Bùi Bằng Đoàn trông nom việc xử kiện tại tất cả các tỉnh
Trung kỳ, chỉ đạo việc soạn thảo các luật cho Trung kỳ đều bằng tiếng Pháp, tiếng
Việt và dịch ra chữ Hán.
Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, vua Bảo Đại xuống chiếu thành lập Chính
phủ, cụ đã từ chối tham gia Chính phủ, cáo quan về quê. Tuy nhiên, Chính phủ Nam
triều đã mời cụ ở lại bằng được và giao cho cụ giữ chức Chánh thất Tòa Thượng thẩm
Hà Nội. Ở thời điểm “đêm trước” của cách mạng, tổ chức Việt Minh đã tiếp xúc và
mời cụ làm Hội trưởng Hội bảo vệ tù chính trị.
Trước tình hình chiến sự của đất nước, thù trong, giặc ngoài, để đoàn kết dân tộc và
tìm người tài đức phục vụ cách mạng, ngày 17/11/1945, Hồ Chủ tịch đã kiên trì viết
thư tay mời cụ Đoàn tham gia làm cố vấn Chính phủ, thành viên Ủy ban nghiên cứu kế
hoạch kiến thiết đất nước. Trong bức thư tay gửi cụ Đoàn có nội dung: “Thưa Ngài!
Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm
phong phú. Vậy nên, tôi mời Ngài làm Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong công
việc hưng lợi, trừ hại cho nước nhà dân tộc. cảm ơn và chúc Ngài mạnh khỏe. Kính
thư”. Nể phục và mến mộ tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Bùi Bằng Đoàn đã rời
quê đi theo cách mạng, trở thành 1 trong 10 người trong Ban Cố vấn của Chính phủ
lúc bấy giờ.
Ngày 6/1/1946, cụ Đoàn trúng cử Đại biểu Quốc hội Việt Nam tại tỉnh Hà Đông và
được cử làm Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ, tương đương với chức
Tổng Thanh tra Chính phủ Việt Nam.
Ngày 2/3/1946, cụ được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội, tham gia thành lập
Hội Liên hiệp quốc dân. Ngày 8/11/1946, cụ Đoàn được cử làm Trưởng ban Thường
trực Quốc hội thay cho cụ Nguyễn Văn Tố.
Năm 1947-1948, cụ hoạt động ở chiến khu Việt Bắc. Cuối năm 1948, cụ Đoàn lâm
bệnh nặng ở Việt Bắc và được đưa về Liên khu 3 điều trị. Trong thời gian này, cụ vẫn
theo dõi tin tức và đóng góp ý kiến cho Quốc hội. Hòa bình lập lại, cụ Đoàn về Hà Nội
dưỡng bệnh. Ngày 13/4/1955, cụ qua đời tại Hà Nội.
Với công lao, sự cống hiến to lớn cho Đảng, cho Chính phủ, cụ Đoàn đã được tặng
thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng
Nhất.
2

3 Page 3

▲back to top
Để nhớ đến tên tuổi và công lao của cụ, một số nơi trên cả nước, các đường, phố
được mang tên của cụ Đoàn, như phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, Hà Nội; phố
cạnh trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, thành phố Nam Định, tỉnh Nam
Định và một phố ở trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh…
Có thể nói, từ một trí thức lớn yêu nước đến một vị Thượng thư Bộ hình của triều
đình Huế, với tài năng, đức độ của mình cụ Đoàn đã được nhân dân và Chính phủ tín
nhiệm giao nhiều trọng trách trong bộ máy Nhà nước. Trong các cương vị được đảm
nhiệm, đặc biệt với Trưởng ban Thường trực Quốc hội, cụ đã làm việc tận tâm, tận lực,
nghiêm túc, đúng quyền hạn và trách nhiệm, kể cả trong thời gian bị bệnh, cụ vẫn luôn
theo dõi tình hình đất nước, cố gắng đóng góp sức lực của mình vào công việc của
Quốc hội, vào công cuộc kháng chiến của toàn dân. Cụ chính là tấm gương tiêu biểu
của một nhân sĩ yêu nước, chân chính, hết lòng phụng sự Tổ quốc, hết lòng phục vụ
nhân dân. Một tinh thần làm việc tận tụy, sự hy sinh vì nước, vì dân cao cả, sống
khiêm tốn, giản dị, không màng danh lợi, phú quý sẽ mãi là tấm gương sáng để các đại
biểu quốc hội cùng cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ hôm
nay học tập, noi theo.
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh của cụ Bùi Bằng Đoàn là dịp chúng ta tưởng nhớ và tri
ân công lao, sự cống hiến to lớn của cụ đối với nhân dân và cách mạng Việt Nam.
Đồng thời, tuyên truyền, khơi gợi tình yêu quê hương đất nước và trách nhiệm đối với
đất nước trong mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Noi gương Cụ
Đoàn, thế hệ hôm nay nguyện đi theo con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh và các bậc tiền bối trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn đã lựa chọn, chung tay
góp sức bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn
minh, xứng đáng với sự cống hiến, hy sinh của các tiền bối và các vị anh hùng dân
tộc./.
Đinh Nhài
3