Tam long uu quoc ai dan

Tam long uu quoc ai dan

1 Page 1

▲back to top
HUỲNH VĂN TỚI. Trịnh Hoài Đức – Tấm lòng ưu quốc ái dân / Huỳnh Văn
Tới, Bùi Quang Huy // 290 năm Văn miếu Trấn Biên. – Đồng Nai : Nxb. Đồng
Nai, 2012. – Tr.39-42.
Trịnh Hoài Đức là nhà văn hóa lớn nhất miền Nam, cả cuộc đời gắn bó máu thịt
với đất Đồng Nai – Gia Định. Mang trong mình hai dòng máu Việt – Hoa, nhưng Trấn
Biên đã là quê hương ông từ thuở lọt lòng, năm Ất Dậu (1765). Xuất thân từ một gia
đình khoa bảng. Cụ nội tổ Trịnh Hoài Đức đến miền Nam nước Việt từ đời Chúa
Nguyễn Phúc Tần (1648– 1687), lúc đầu là Phú Xuân, sau chuyển vào Trấn Biên.
Người cha tên là Trịnh Khánh, có tiếng văn hay chữ tốt. Ông Trịnh Khánh thời Chúa
Nguyễn Phúc Khoát (1738– 1765) làm quan với chức Chấp canh tam trưởng Cai đội,
một chức vụ không lấy gì làm lớn. Năm Trịnh Hoài Đức lên 10, ông Trịnh Khánh mất.
Không thấy sử sách nói gì cụ thể về gia cảnh, nhưng trong thơ sau này, Trịnh Hoài Đức
tả ông đi nhiều nơi, được mẹ cho học chữ với các vị sư sãi. Điều đó chứng tỏ cuộc sống
khó khăn, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc liên miền.
Rời Trấn Biên, Trịnh Hoài Đức về ngụ tại Phiên An (sau này là tỉnh Gia Định).
Ở đây, ông theo học cụ Võ Trường Toản, nhà giáo nổi tiếng nhất đương thời.
Năm Mậu Thân (1788), chúa Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại thành Gia Định, cho
mở khoa thi để chọn nhân tài. Các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang
Định, vốn là bạn bè của nhau, cùng thi đỗ và được bổ làm chức Hàn lâm viện Chế cáo.
Năm 1793, Trịnh Hoài Đức được cử làm Đông cung Thị giảng, chức quan lo việc dạy
học cho hoàng tử, theo Đông cung Hoàng tử Cảnh ra trấn nhậm thành Diên Khánh (nay
là tỉnh Khánh Hòa). Năm 1794, Trịnh Hoài Đức được điều về Gia Định, giữ chức Điền
tuấn quan, trông coi việc khai khẩn đất đai. Sau đó không lâu, ông được thăng chức
Hữu Tham tri bộ Hộ, rồi Thượng thư bộ Hộ.
Trước khi lên ngôi hoàng đế (1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh đã cử phái đoàn đi
sứ nhà Thanh. Trịnh Hoài Đức được cử làm Chánh sứ, cùng với Tham tri bộ Binh Ngô
Nhơn Tịnh, Tham tri bộ Hình Hoàng Ngọc Uẩn – những người bạn đồng liêu.
Đi sứ về, Trịnh Hoài Đức vẫn giữ chức Thượng thư bộ Hộ cho đến năm 1805
(Ất Sửu) thì được vua phái vào Nam, giữ chức Hiệp hành Gia Định lưu trấn. Ba năm
sau, được thăng Hiệp trấn thành Gia Định, tức vị quan thứ hai ở cả vùng đất Nam bộ
lúc bấy giờ.
Năm Nhâm Thân (1812), Trịnh Hoài Đức về lại kinh sư, giữ chức Thượng thư
bộ Lễ, kiêm Quản Khâm thiên giám. Năm sau, ông sang giữ chức Thượng thư bộ Lại
(tương đương như Bộ Nội vụ ngày nay). Khi Tổng trấn Gia Định thành là Nguyễn Văn
Nhân bị triệu về kinh (1820), Trịnh Hoài Đức được cử thay chức vụ. Khi Minh Mạng
lên ngôi, ông được mời về kinh trông coi bộ Lại như trước và kiểm Phó tổng tài Quốc
sử quán. Không lâu, nhà vua thăng ông lên Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh cả hai chức

2 Page 2

▲back to top
Thượng thư bộ Lại và bộ Binh (Bộ Quốc phòng). Thật hiếm có một người nào được
trọng dụng, giữ những chức vụ quan trọng trong triều như Trịnh Hoài Đức.
Mùa thu năm 1823 (Quý Mùi), Trịnh Hoài Đức dâng sớ xin nghỉ vì sức khỏe.
Vua đành lòng phải thuận, nhưng sau đó lại mới ra nhậm chức cũ. Thấy sức khỏe cùng
lúc càng yếu đi, Trịnh Hoài Đức lại xin cáo quan. Ông mất sau đó hai năm, năm 1825,
lúc mới 61 tuổi.
Trịnh Hoài Đức mất, nhà vua đã cho bãi triều ba ngày và truy tặng là Thiếu phó
Cần Chánh điện Đại học sĩ, ban tên thụy là Văn Khác. Đám tang ông được tổ chức
trọng thể. Vua Minh Mạng còn phái Hoàng thân Miên Hoàng đưa thi hài Trịnh Hoài
Đức về chôn tại quê nhà, làng Bình Trước, huyện Phước Chánh, phủ Phước Long, tỉnh
Biên Hòa (nay là phường Trung Dũng, Biên Hòa). Năm 1852, bài vị ông được thờ ở
miếu Trung hưng công thần, nơi thờ tự bậc có công nhất đối với vương triều. Sang năm
1858, bài vị Trịnh Hoài Đức lại được đem về thờ ở đền Hiền Vương.
Cuộc đời làm quan của Trịnh Hoài Đức thật vinh hiển, ít người sánh được.
Nhưng ông không chỉ là vị quan to mà còn là nhà văn hóa lớn.
Năm 1805, khi đang làm quan ở Gia Định thành, Trịnh Hoài Đức được vua Gia
Long sai “kê khảo sự tích, cương vực, thổ sản trong địa hạt”. Nhân đó, ông đã viết bộ
sách quý Gia Định thành thông chí, một công trình có giá trị cao về địa dư, lịch sử, văn
hóa của cả vùng đất phương Nam. Những hiểu biết sâu sắc và toàn diện về Nam bộ
một thời cho đến nay vẫn không có cuốn sách nào có thể thay thế Gia Định thành thông
chí. Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam bộ không lâu, Bộ trưởng Hải quân và
thuộc địa Pháp, Chasseloup, đã ra lệnh dịch và xuất bản bằng tiếng Pháp cuốn địa chí
này.
Trong vòng năm mươi năm cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, ở Nam bộ có
ba nhà thơ tài danh nhất: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định. Ba ông
đã hợp thành nhóm Gia Định tam gia, từ văn đàn của mình là Bình Dương thi xã (có
thêm các thành viên là Hoàng Ngọc Uẩn và Diệp Minh Phụng). Riêng sáng tác của
Trịnh Hoài Đức có tập thơ Cấn Trai thi tập gồm 5 phần:
– Tựa và Bạt của Trịnh Hoài Đức và ba vị quan đồng triều là Ngô Địch Cát, Ngô
Thời Vị và Cao Huy Được;
– Thối thực truy biên tập, gồm 127 bài thơ Trịnh Hoài Đức sáng tác vào thời kỳ
phiêu bạt ở nhiều nơi (1782–1801), bộc lộ sâu sắc tình cảm của nhà thơ đối với quê
hương Trấn Biên và nước Việt;
– Quan quang tập, gồm 152 bài thơ, viết trong thời gian đi sứ Trung Quốc. Phần
này lâu nay có tên là Bắc sứ thi tập nên nhiều người nhầm là một tập thơ riêng;
- Khả dĩ tập, gồm 48 bài thơ và văn xuôi, viết từ năm 1804–1818. Thời gian này
họ Trịnh làm quan Hiệp tổng trấn Gia Định và ở kinh sư là một trong tứ trụ triều đình;
– Tự truyện, gồm những ghi chép của nhà thơ về gia đình, bước hoạn lộ, đi sứ,
tự bạch về sáng tác... Phần này được Trịnh Hoài Đức viết vào những năm cuối đời.

3 Page 3

▲back to top
Nổi bật trong văn chương Trịnh Hoài Đức là tình yêu sâu nặng đối với quê
hương, đất nước. Ông đã viết khá nhiều bài thơ về từng vùng quê cụ thể: Trấn Biên,
Gia Định, Hà Tiên... Cùng với quê hương, cuộc sống bình thường đã đi vào thơ văn
Trịnh Hoài Đức vừa ngọt ngào, thân thuộc vừa thiết tha, yêu thương:
Cầu vòng trò nhỏ trong sương sớm,
Ông lão buông cần cất tiếng ca.
Lặn lội thân cò người thiếu phụ,
Ngồi trông cửa trước nhặt cành hoa.
(Long Tịch thôn cư tập vịnh – bản dịch)
Tuy làm quan to nhưng Trịnh Hoài Đức luôn là người ưu thời mẫn thế, sống gắn
bó với dân nghèo và kỳ vọng ở một tương lai tốt đẹp sẽ đến với nhân dân và đất nước.
Chính vì thế đương thời đại thi hào Nguyễn Du khi đọc thơ của nhóm Bình Dương thi
xã đã ghi nhận xét là một chữ diệu, tức trên cả mức hay, đạt đến độ tuyệt vời.