Nha van hoa lon nha su hoc nha quan su dai tai

Nha van hoa lon nha su hoc nha quan su dai tai

1 Page 1

▲back to top
HỒNG ÂN. Trịnh Hoài Đức - Nhà văn hóa lớn, nhà sử học, nhà quân sự đại
tài : Nhân 260 năm ngày sinh, 200 năm ngày mất Trịnh Hoài Đức / Hồng Ân //
Đồng Nai cuối tuần. – 2025. – Số Xuân Ất Tỵ. – Tr.5.
Trịnh Hoài Đức (1765-1825) tên khác là An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, gốc
người huyện Trường Lạc, Phúc Kiến, Trung Quốc. Đầu đời nhà Thanh, ông nội
của ông là Trịnh Hội di cư sang Việt Nam, ngụ ở đất Trấn Biên (Biên Hòa ngày
nay). Cha của ông là Trịnh Khánh, nổi tiếng là người cao cờ.
Lúc cha mất, Trịnh Hoài Đức
mới 10 tuổi, rất bền chí hiếu học. Thời
ấy gặp khởi nghĩa Tây Sơn, Trịnh
Hoài Đức bèn theo mẹ vào ở Phiên
Trấn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày
nay) và vâng theo lời mẹ, theo học với
Xử sĩ Võ Trường Toản tiên sinh.
Công thần thuộc hàng đầu
của triều Nguyễn
Năm Mậu Thân 1788, lúc
Nguyễn Phúc Ánh chiếm lại Gia
Định, Trịnh Hoài Đức cùng nhóm Lê
Quang Định ra ứng cử, được cho làm
chức Hàn Lâm viện Chế cáo. Năm
1789, nhiệm chức Điền Tuấn sứ
huyện Tân Bình, coi việc mở mang
vùng tam giác sông Me Kong và xác
định chế độ điền thổ, đồng thời lo trù
biện lương hướng cho quân đội.
Năm 1802, Trịnh Hoài Đức được vua Gia Long thăng nhiệm Thượng thư Bộ Hộ,
cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh cầu phong. Tháng 7-1812, cải nhiệm Thượng thư Bộ
Lễ, kiêm quản Khâm Thiên giám. Năm 1813, Trịnh Hoài Đức cải lãnh Thượng thư Bộ
Lại. Tháng 11-1816, Thế Tổ cho rằng Gia Định là một thành lớn phương Nam, lại có
việc giao thiệp với lân bang rất hệ trọng, cần phải có người giỏi trấn nhiệm mới được,
bèn phái Thượng thư Bộ Lại Trịnh Hoài Đức nhiệm chức Gia Định Hiệp Tổng trấn.
Tháng 12-1819, vua Thế Tổ mất, Phúc Hiệu nối ngôi, đổi niên hiệu là Minh
Mạng (Thánh Tổ triều Nguyễn). Vua Minh Mạng sớm nhìn thấy tài năng quân sự của
Trịnh Hoài Đức, nên ngay khi mới lên ngôi, đầu năm Canh Thìn (1820) đã giao ông
chức vụ Tổng trấn thành Gia Định. Tháng 6-1920, Thánh Tổ triệu ông về kinh, lãnh

2 Page 2

▲back to top
việc Bộ Lại. Tháng 8-1821, thăng cho ông
làm Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh Thượng
thư Bộ Lại, kiêm Thượng thư Bộ Binh.
Trịnh Hoài Đức là công thần thuộc
hàng đầu của triều Nguyễn. Ông đã có
công rất lớn trong khai khẩn đất đai và xây
dựng làng xã ở vùng đất Nam Bộ. Khi
Biên Hòa - Đồng Nai đã sinh ra Trịnh
Hoài Đức - nhà văn hóa lớn, nhà sử học,
nhà quân sự đại tài, Thượng thư 4 bộ
triều Nguyễn. Chính mảnh đất này cũng
đã gìn giữ, bảo quản linh cữu ông trong
suốt 200 năm qua.
chúa Nguyễn đánh trận ở Phú Xuân (Huế ngày nay), ông lại được giao công việc hậu
cần, tiếp vận quân lương, từ đấy ông chứng tỏ được tài năng quân sự của mình và ít
người biết đến chức Thượng thư Bộ Binh (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay), bởi
cái tài năng văn thơ của ông quá nổi trội, lấn lướt cả cái tài dùng binh. Trong bối cảnh
nhà Nguyễn vào thời điểm thịnh trị, dẹp loạn vùng biên cương và mở mang bờ cõi
phương Nam vốn có nhiều tướng tài; ông lại được phụ trách các tướng tài đó, chứng tỏ
tầm nhìn chiến lược về quân sự, tài quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia của ông nổi trội
hơn cả.
Trịnh Hoài Đức là vị tướng văn võ song toàn, lại còn là một nhà ngoại giao xuất
sắc, được vua Gia Long cử làm Chánh sứ sang giao thiệp với nhà Thanh (Trung Quốc).
Chuyến đi sứ này đã được ông ghi lại trong tập thơ Đi sứ cảm tác gồm 18 bài bằng chữ
Nôm.
Trịnh Hoài Đức còn là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng không chỉ ở Nam Bộ, ông
là tác giả nhiều bộ sách giá trị như: Gia Định tam gia (ba nhà văn hóa lớn ở xứ Gia
Định: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh), Thoái thực trung biên
tập, Quan quang tập, Khả dĩ tập, Tự truyện, Lịch đại kỷ nguyên, Khang tế lục, Bắc sứ
thi tập, Cấn trai thi tập (1782-1818)…
Đặc biệt là tác phẩm Gia Định thành thông chí (1805-1820), ghi chép sự kiện
đến hết đời Gia Long (6 quyển) - một trong những bộ địa dư chí quan trọng bậc nhất
của miền Nam nước ta thế kỷ XVIII, được bao thế hệ người đọc yêu mến, các nhà sử
học coi đây là sách gối đầu giường mỗi khi nghiên cứu về đất và người phương Nam.
Ông viết về xứ Gia Định cách đây hơn 200 năm với con mắt tinh tường của một sử gia
có tài. Sách ghi chép mọi điều về xứ Gia Định, nơi ông từng làm Tổng trấn. Sách hay
đến nỗi sau khi viết xong, dâng vua Minh Mạng trong dịp vua xuống chiếu cầu sách
cũ, đã được vua khen và ban tặng.
Học giả người Pháp là ông Aubaret thấy sách có giá trị đã dịch sang tiếng Pháp.
Sau đó, sách lại được nhiều người viết sử ở Nam Bộ trích dẫn, dịch. Năm 1998, Nhà
xuất bản Giáo dục mới in lại bản dịch và giáo sư Đào Duy Anh hiệu đính, được coi là
bản hoàn chỉnh nhất. Năm 2025, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai in bản dịch, chú
giải và hiệu đính của Lý Việt Dũng và Huỳnh Văn Tới.
Cuộc đời giản dị, thanh liêm, trong sáng

3 Page 3

▲back to top
Trong suốt 36 năm làm quan dưới triều Nguyễn, Trịnh Hoài Đức luôn tận trung
với vua, chăm lo cho dân. Ông là người tài lại được các vua triều Nguyễn trọng dụng
nên đã phát huy hết tài năng của mình trong khá nhiều trọng trách vua giao. Tuy quyền
cao, chức trọng, nhưng ông vẫn sống cuộc đời giản dị, thanh liêm, trong sáng. Để làm
nên một Trịnh Hoài Đức nổi danh, ngoài tài năng, ông còn có những đức tính tuyệt vời
mà không bề tôi triều Nguyễn nào sánh được: “Đức là người cẩn thận, phong độ, trầm
tĩnh, nghiêm chỉnh, học vấn rộng rãi, nghị luận thường giữ đại thể” (Đại Nam liệt
truyện).
Làm đến Thượng thư 4 bộ, mà ông không tơ hào chút nào của công, không nhà
riêng, vua thương tình mới xây nhà cho; vợ chết không thể về Gia Định để lo hậu sự.
Thật là một tấm gương sáng về liêm khiết, tận trung với nước, đáng để muôn đời noi
theo.
Trịnh Hoài Đức còn là người con có hiếu. Mẹ ông là cô gái Việt, quê ở làng Bình
Trước, quận Châu Thành (nay thuộc khu phố 3, phường Trung Dũng, thành phố Biên
Hòa). Thời thơ ấu nhiều năm gắn bó với quê mẹ, những năm làm quan dưới triều
Nguyễn phải xa nhà, không chăm sóc mẹ được, nên trước khi mất, tâm nguyện của ông
được đưa linh cữu về quê mẹ an táng...
Mộ phần ông bà Trịnh Hoài Đức nhìn ra công viên Biên Hùng thơ mộng, phía
trước mộ là con đường mang tên ông rợp bóng mát. Ông đã trở về với dân dã, ngôi
mộ đơn sơ xây bằng đá ong. Năm 1938, Trường Viễn Đông Bác cổ xếp mộ Trịnh
Hoài Đức là di tích quý giá. Năm 1990, Bộ Văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch
(nay là Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch) xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.