12. Phat trien cua quoc hoi Viet Nam qua cac thoi ky

12. Phat trien cua quoc hoi Viet Nam qua cac thoi ky

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top
Phát triển của quốc hội Việt Nam qua các thời kỳ / Ban Biên tập Cổng
TTĐT tỉnh // https://www.tuyenquang.gov.vn. - 2025. - Ngày 16 tháng 9.
Thời kỳ 1946 - 1960
Thời kỳ này, Quốc hội nước ta đã cùng với dân tộc trải qua nhiều khó khăn,
gian khó để tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong năm 1946, Quốc
hội đã có những hành động quyết liệt để đoàn kết, thống nhất dân tộc, chống thù
trong, giặc ngoài, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng.
Kỳ họp thứ nhất, khai mạc vào ngày 02/3/1946 tại Nhà hát lớn Hà Nội, Quốc
hội đã thực hiện những nhiệm vụ của cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Quốc hội đã nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho Chính phủ
khai mạc và báo cáo những công việc đã làm trong thời gian trước đó; biểu quyết
thông qua danh sách các thành viên Chính phủ liên hiệp kháng chiến gồm 12 người,
lập ra Cố vấn đoàn, Kháng chiến ủy viên hội; bầu Ban Thường trực Quốc hội do ông
Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban và quyết định khi Chính phủ muốn tuyên chiến hay
đình chiến bắt buộc phải hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội; đồng thời, tại kỳ họp
thứ nhất, để tập hợp các lực lượng đại diện các đảng phái, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đề nghị và được toàn thể Quốc hội chấp nhận mở rộng thành phần Quốc hội thêm
70 đại biểu cho 2 Đảng phái là Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam độc lập
Đồng minh hội (Việt Cách) mà không qua bầu cử. Như vậy, tổng số đại biểu Quốc
hội khóa I nâng lên thành 403 đại biểu.
Đình Tân Trào - Nơi ghi dấu sự kiện trọng đại của dân tộc Việt Nam
trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.

1.2 Page 2

▲back to top
Kỳ họp thứ hai, tổ chức từ ngày 28/10 đến 09/11/1946, vai trò của Quốc hội
được thể hiện rõ nét với thực hiện những nhiệm vụ rất quan trọng về đối nội và đối
ngoại. Tại kỳ họp, Quốc hội đã thảo luận và thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Hiến pháp 1946. Quốc hội lập hiến do toàn dân
bầu ra ngày 06/01/1946 trở thành Quốc hội lập pháp và kéo dài nhiệm kỳ hoạt động
(khóa I) đến năm 1960.
Giai đoạn 1946-1954, Quốc hội đã cùng với Nhân dân tiến hành sự nghiệp
kháng chiến, kiến quốc, thực hiện cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, quyết liệt
trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa... Ban Thường trực Quốc hội
luôn cùng Chính phủ bàn bạc, tham gia ý kiến về các chủ trương, chính sách lớn.
Giai đoạn từ 1954-1960, theo Hiệp định Genevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt
Nam, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền Bắc - Nam. Trong bối cảnh đó, Quốc
hội đã cùng với Nhân dân tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: miền Bắc
sau khi giải phóng đã bước vào thời kỳ khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ, tiến hành đấu tranh giải phóng miền Nam tiến tới hòa bình, thống
nhất đất nước.
Quốc hội khóa I tổ chức 12 kỳ họp trong 14 năm và xem xét, thông qua bản
Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, 16 đạo luật và 50 nghị quyết, trong đó có những
đạo luật quan trọng như: Luật Cải cách ruộng đất, Luật quy định quyền tự do hội
họp, Luật quy định quyền lập hội, Luật về chế độ báo chí... Đánh giá công lao to lớn
của Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quốc hội ta đã hết lòng vì dân
vì nước, đã làm trọn một cách vẻ vang nhiệm vụ của những đại biểu của nhân dân”
tại kỳ họp thứ 12.
Thời kỳ 1960 - 1980
Thời kỳ này, Quốc hội hoạt động theo Hiến pháp 1959 và Luật Tổ chức Quốc
hội năm 1960. Đây là thời kỳ Quốc hội hoạt động trong điều kiện miền Bắc tiến hành
xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước ở miền Nam. Hiến pháp 1959 quy định rõ ràng và đầy đủ hơn về vị trí, vai trò
của Quốc hội.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp 1959 bao gồm Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban dự án pháp luật, Ủy ban kế hoạch và ngân sách và
những Ủy ban khác mà Quốc hội xét thấy cần thiết để giúp Quốc hội và Ủy ban
Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc

1.3 Page 3

▲back to top
hội do Quốc hội bầu ra, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và các ủy
viên.
Quốc hội khóa II (1960 - 1964): tổ chức bầu ngày 08/5/1960; tổng số 453 đại
biểu, trong đó có 91 đại biểu miền Nam lưu nhiệm theo Nghị quyết của kỳ họp thứ
11 Quốc hội khóa I. Đây là nhiệm kỳ đầu tiên nhà nước và Nhân dân đi vào thực
hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân theo đường lối chiến lược do Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ III đề ra. Nhiệm kỳ Quốc hội là 4 năm, có 8 kỳ họp và thông qua
6 đạo luật quan trọng về tổ chức của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa
phương. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 9 pháp lệnh. Quốc hội đã phát
huy vai trò quan trọng của mình trong việc động viên sức người, sức của để xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước. Quốc hội đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ
nhất (1961 - 1965), thông qua Cương lĩnh hành động của toàn dân nhằm thực hiện
nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; thông qua kế hoạch hằng năm, xét duyệt và phê
chuẩn dự toán, quyết toán ngân sách nhà nước; phê chuẩn việc thành lập các tổ chức
và cơ quan nhà nước; bổ nhiệm cán bộ cấp cao của Nhà nước; phê chuẩn việc khen
thưởng và đã tích cực giải quyết các đơn thư khiếu tố của Nhân dân, ân xá những
phạm nhân cải tạo tốt.
Quốc hội khóa III (1964 - 1971): tổ chức bầu ngày 26/4/1964; tổng số 453 đại
biểu, trong đó có 87 đại biểu Quốc hội khóa I thuộc các tỉnh miền Nam được lưu
nhiệm. Nhiệm kỳ khóa III của Quốc hội hoạt động trong thời kỳ chiến tranh, nên
kéo dài trong 7 năm, với 7 kỳ họp; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp 95 phiên,
thông qua nhiều nghị quyết về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại, về tổ chức
hành chính, về nhân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc, phục vụ sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá
hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Lúc này, mọi yêu cầu nhiệm vụ về
quân sự, kinh tế, chính trị... đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời. Quốc hội đã thông
qua Nghị quyết giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thêm một số quyền hạn trong
trường hợp Quốc hội không có điều kiện thuận tiện để họp. Theo đó, những chủ
trương, chính sách, nhiệm vụ công tác lớn về chống Mỹ, cứu nước, về chính sách
kinh tế thời chiến, về đối ngoại đều được Chính phủ kịp thời báo cáo với Quốc hội
hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn nhanh chóng, là điều kiện quan trọng
bảo đảm kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng.

1.4 Page 4

▲back to top
Quốc hội khóa IV (1971 - 1975): tổ chức bầu ngày 11/4/1971; tổng số 420 đại
biểu. Quốc hội khóa IV họp 5 kỳ trong 4 năm; Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp 53
phiên và đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về phương hướng, nhiệm vụ, chỉ
tiêu của các kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế; phê chuẩn dự toán và quyết
toán ngân sách nhà nước hằng năm, góp phần quan trọng vào việc củng cố và xây
dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sức mạnh để đánh thắng cuộc chiến tranh
phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải đàm phán và ký kết Hiệp định
Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1973). Hoạt động của
Quốc hội đã góp phần quan trọng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và
dân ta đánh đổ chế độ thực dân mới ở miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân
chủ, thống nhất đất nước.
Quốc hội khóa V (1975 - 1976): tổ chức bầu ngày 06/4/1975; tổng số 424 đại
biểu. Quốc hội khóa V ra đời trong bối cảnh miền Nam vừa mới giải phóng
(30/4/1975) và hoạt động chưa đầy 2 năm, họp 2 kỳ; Ủy ban Thường vụ Quốc hội
họp 10 phiên đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Đặc biệt, Quốc
hội đã góp phần quan trọng trong việc thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Theo
đó, trên cơ sở sự nhất trí giữa Quốc hội và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
với các cơ quan có trách nhiệm ở miền Nam, ngày 27/10/1975, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội đã họp phiên đặc biệt để thảo luận, thông qua đề án thực hiện thống nhất
nước nhà về mặt nhà nước, cử đoàn đại biểu miền Bắc tham dự Hội nghị hiệp thương
với đoàn đại biểu miền Nam. Tại Hội nghị hiệp thương, các đại biểu của đoàn miền
Bắc và đại biểu của đoàn miền Nam đã khẳng định cần hoàn thành thống nhất nước
nhà trên cơ sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là sự thống nhất trọn vẹn
vững chắc nhất. Tại kỳ họp thứ hai (tháng 12/1975), Quốc hội đã nhất trí thông qua
Nghị quyết phê chuẩn kết quả Hội nghị hiệp thương mở ra thời kỳ phát triển mới
của nước Việt Nam thống nhất.
Quốc hội khóa VI (1976 - 1981): tổ chức bầu ngày 25/4/1976, là Quốc hội của
nước Việt Nam thống nhất; tổng số 492 đại biểu. Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử
là một thắng lợi có ý nghĩa quyết định đưa cách mạng Việt Nam chính thức bước
sang một giai đoạn mới, giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thể hiện tính
liên tục của Nhà nước qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng, Quốc hội đã quy định
Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất là Quốc hội khóa VI. Quốc hội quyết định
đổi tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quy định Quốc kỳ, Quốc huy,
Quốc ca; chính thức đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí
Minh; quy định Thủ đô của nước Việt Nam thống nhất là Hà Nội. Đồng thời, Quốc

1.5 Page 5

▲back to top
hội đã ra Nghị quyết về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội khóa VI diễn ra trong 5 năm, họp 7 kỳ và
quyết định nhiều vấn đề quan trọng của đất nước. Kỳ họp thứ 7 (tháng 12/1980),
Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam - Hiến pháp 1980. Đây là bản Hiến pháp thứ ba được Quốc hội thông qua để
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng.
Nhà Quốc hội
Thời kỳ 1980 - 1992
Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1980 và
Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước 1981. Quốc hội được xác định là cơ
quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập
pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện
quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Hiến pháp 1980 đã có sự điều chỉnh lớn về cơ cấu tổ chức của Quốc hội. Đó là
việc thiết lập Hội đồng Nhà nước thay cho chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội và
lần đầu tiên Hiến pháp quy định chức danh Chủ tịch Quốc hội. Hội đồng Nhà nước
là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chủ tịch Quốc hội có nhiệm vụ chủ tọa
các phiên họp của Quốc hội; bảo đảm việc thi hành nội quy của Quốc hội; giữ quan

1.6 Page 6

▲back to top
hệ với các đại biểu Quốc hội; điều hòa và phối hợp hoạt động của các Ủy ban của
Quốc hội; chứng thực những luật và nghị quyết đã được Quốc hội thông qua; thực
hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội có quyền tham dự các phiên
họp của Hội đồng Nhà nước. Thời kỳ này, Quốc hội trải qua 02 khóa hoạt động:
Quốc hội khóa VII (1981 - 1987): tổ chức bầu vào ngày 26/4/1981; tổng số
496 đại biểu. Quốc hội khóa VII với 12 kỳ họp và ban hành 10 đạo luật (trong đó có
Bộ luật Hình sự đã được thông qua tại kỳ họp thứ 9 ngày 27/6/1985), 35 nghị quyết;
Hội đồng Nhà nước ban hành 15 pháp lệnh, Quốc hội đã triển khai thực hiện chức
năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, như: thành lập các cơ quan nhà
nước ở Trung ương; thông qua các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
hằng năm; quyết định các vấn đề cử và miễn nhiệm một số thành viên Hội đồng Bộ
trưởng... Hoạt động giám sát cũng được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước coi trọng,
tập trung vào các vấn đề quản lý kinh tế - xã hội, việc thi hành Hiến pháp, pháp luật
nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hoạt động chất vấn tại kỳ họp đã có
bước cải tiến, tại kỳ họp thứ 10, các đại biểu Quốc hội đã tập trung chất vấn vào việc
đánh giá những sai lầm, khuyết điểm về việc thực hiện chính sách “giá - lương -
tiền”, đồng thời đề ra những biện pháp khắc phục. Thời kỳ này, hoạt động ngoại giao
nghị viện cũng được đẩy mạnh, chú trọng nguyên tắc nhất quán, ủng hộ những sáng
kiến hòa bình, bảo đảm an ninh chung của nhân loại.
Quốc hội khóa VIII (1987 - 1992): tổ chức bầu ngày 19/4/1987; tổng số 496
đại biểu. Quốc hội khóa VIII, là Quốc hội của giai đoạn đầu sự nghiệp đổi mới toàn
diện đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra. Nhiệm kỳ
này Quốc hội họp 11 kỳ và thông qua 2 bộ luật, 25 đạo luật; Hội đồng Nhà nước đã
ban hành 39 pháp lệnh. Kỳ họp thứ 5 (tháng 6/1989), Quốc hội đã thông qua Nghị
quyết về việc thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp để tiến hành sửa đổi Hiến pháp
1980 một cách cơ bản và đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Hiến pháp
mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII
xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 11 (năm 1992). Kế thừa và phát triển các bản Hiến
pháp trước đây, ngoài việc thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, Hiến pháp
1992 đã thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội và tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, đưa đất nước phát triển trong giai đoạn mới.
Thời kỳ 1992 đến nay
Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1992 và
Hiến pháp 2013. Quốc hội đã có những đổi mới cơ bản, khắc phục tính hình thức,

1.7 Page 7

▲back to top
hạn chế trong hoạt động ở các khóa trước và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò là
cơ quan đại biểu dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thời kỳ này, Quốc hội có 7 khóa hoạt động:
Quốc hội khóa IX (1992 - 1997): tổ chức bầu ngày 19/7/1992; tổng số 395 đại
biểu. Quốc hội khóa IX hoạt động theo quy định của Hiến pháp 1992, trong đó có
vai trò quan trọng về việc thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến
năm 2000 do Đại hội lần thứ VII của Đảng đề ra. Quốc hội cũng đã thông qua Nghị
quyết về nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (1996-2000). Hoạt động của Quốc hội đã góp
phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới sâu sắc và toàn diện, phát huy vai trò của cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thực sự là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân
dân. Quốc hội khóa IX tiến hành 11 kỳ họp và ban hành 36 luật, bộ luật, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ban hành 43 pháp lệnh. Quốc hội đã có nhiều quyết sách quan
trọng để xây dựng và phát triển đất nước.
Quốc hội khóa X (1997 - 2002): tổ chức bầu ngày 20/7/1997; tổng số 450 đại
biểu. Quốc hội khóa X tiến hành 11 kỳ họp và ban hành 01 bộ luật, 31 luật; Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ban hành 39 pháp lệnh. Nổi bật của kỳ họp thứ 10, Quốc hội
đã ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của
Hiến pháp 1992, nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội lần thứ IX của Đảng. Quốc hội ngày càng chú trọng và chủ động hơn trong
việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, như: Quyết định các
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia, tổ chức bộ
máy và nhân sự của các cơ quan nhà nước do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, các vấn
đề về bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa X cũng
được triển khai tích cực, có sự đổi mới cả về nội dung và hình thức giám sát. Hoạt
động đối ngoại của Quốc hội được triển khai chủ động nhằm củng cố và phát triển
quan hệ hữu nghị với tất cả các nước; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động trên
các diễn đàn nghị viện đa phương.
Quốc hội khóa XI (2002 - 2007): tổ chức bầu ngày 19/5/2002; tổng số 498 đại
biểu. Trong nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đã tăng lên đáng
kể. Có 120 đại biểu (chiếm gần 25% tổng số đại biểu Quốc hội) hoạt động chuyên
trách ở các cơ quan của Quốc hội và 64 đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương. Quốc hội đã ban hành 84 luật, bộ luật; Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ban hành 31 pháp lệnh. Chất lượng các dự án luật, pháp lệnh được thông

1.8 Page 8

▲back to top
qua đã bám sát yêu cầu của cuộc sống, xử lý tốt một số vấn đề nhạy cảm và phản
ánh đầy đủ hơn thực tiễn xã hội. Hoạt động giám sát có bước đổi mới, nội dung giám
sát đã tập trung vào các vấn đề bức xúc được dư luận phản ánh và Nhân dân quan
tâm, như: Đầu tư dàn trải, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản; quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất; triển khai thực hiện một số công trình quan trọng quốc gia; về
giáo dục, y tế; phòng, chống tham nhũng, lãng phí... Việc quyết định những vấn đề
quan trọng của đất nước ngày càng thực chất hơn, từ tổ chức bộ máy nhà nước, nhân
sự cấp cao, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước cho
đến chủ trương đầu tư các dự án, công trình quan trọng quốc gia, phê chuẩn Nghị
định thư về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới...
Quốc hội khóa XII (2007 - 2011): tổ chức bầu ngày 20/5/2007; tổng số 493
đại biểu. So với nhiệm kỳ trước, số lượng các Ủy ban của Quốc hội khóa XII tăng
lên thành 9 Ủy ban với việc Quốc hội thành lập mới Ủy ban Tư pháp, tách Ủy ban
Kinh tế - Ngân sách thành Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính, Ngân sách. Số lượng
đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng được tăng cường với 145 đại biểu,
chiếm 29,41% tổng số đại biểu Quốc hội. Trong nhiệm kỳ 4 năm, Quốc hội khóa
XII đã ban hành 68 luật, 12 nghị quyết; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 13
pháp lệnh và 7 nghị quyết. Các văn bản pháp luật đã ban hành bảo đảm tính hợp
hiến, hợp pháp, thống nhất và đồng bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý và điều
hành kinh tế - xã hội của đất nước. Hoạt động giám sát được tăng cường, có nhiều
đổi mới về cách thức tiến hành, nhất là chất vấn và giám sát chuyên đề. Nội dung
giám sát tập trung vào những vấn đề bức xúc của cuộc sống, bao quát hầu hết các
lĩnh vực. Chất vấn và trả lời chất vấn tiếp tục được cải tiến mạnh mẽ theo hướng tập
trung hơn, thực chất hơn, phản ánh sát thực tâm tư, nguyện vọng của cử tri; chỉ ra
trách nhiệm và giải pháp nhằm thúc đẩy thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng
và nghị quyết của Quốc hội. Việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
ngày càng có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn vì lợi ích của quốc gia, phù
hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.
Quốc hội khóa XIII (2011 - 2016): tổ chức bầu ngày 22/5/2011, đây là lần đầu
tiên cử tri cả nước tham gia cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp trong cùng một ngày với quy mô lớn. Cuộc bầu cử đã thành
công tốt đẹp với 99,51% cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 500 đại biểu Quốc hội tiêu biểu
cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thành tựu nổi bật nhất của Quốc hội khóa XIII,
Quốc hội đã biểu quyết thông qua toàn văn Dự thảo Hiến pháp năm 2013 (kỳ họp
thứ 6). Nhiệm kỳ này, Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xem xét, thông

1.9 Page 9

▲back to top
qua 100 luật, bộ luật, 10 pháp lệnh và nhiều nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật.
Đặc biệt, sau khi Hiến pháp mới được thông qua, Quốc hội đã tập trung xem xét,
thông qua hầu hết các bộ luật lớn, các đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà
nước, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về lĩnh vực tư pháp, về lĩnh
vực xã hội trên cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện nỗ lực to lớn, trách nhiệm trước Nhân dân của
Quốc hội.
Quốc hội khóa XIII, đánh dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên tiến hành lấy phiếu
tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Hoạt động giám sát
chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn cũng có nhiều cải tiến, đổi mới theo hướng
rõ vấn đề, rõ địa chỉ. Việc “tái” giám sát được tiến hành thường xuyên, trước hết là
xem xét kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn.
Theo đó, kỳ họp sau phải báo cáo kết quả thực hiện những điều đã hứa, các giải pháp
đã đưa ra trong lần chất vấn trước. Quốc hội khóa XIII cũng ghi dấu ấn với việc lần
đầu tiên tất cả các thành viên Chính phủ, từ Thủ tướng, các Phó Thủ tướng đến các
bộ trưởng, trưởng ngành đều đăng đàn trả lời chất vấn trước Quốc hội. Các vấn đề
quan trọng của đất nước được Quốc hội thảo luận dân chủ, bám sát thực tiễn, phân
tích thấu đáo bảo đảm lợi ích chung, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân
dân trước khi quyết định. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội tiếp tục được đẩy mạnh,
góp phần thực hiện có kết quả đường lối đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng
hóa các quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Quốc hội khóa XIV (2016 - 2021): tổ chức bầu ngày 22/5/2016 với 99,35%
cử tri đi bỏ phiếu, bầu ra 494 đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ này, số lượng đại biểu
Quốc hội chuyên trách đạt tỷ lệ 34,91%, cao nhất so với các nhiệm kỳ Quốc hội khóa
trước. Quốc hội khóa XIV đã ban hành 65 luật và 99 nghị quyết, trong đó có nhiều
đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền
con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà
nước theo các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động giám sát ngày càng thể hiện tinh thần đổi mới, sáng tạo, hành động
vì lợi ích của Nhân dân, của đất nước. Nội dung giám sát mang tính thiết thực, bao
trùm hoạt động kinh tế và đời sống xã hội. Bên cạnh đó, điểm mới trong nhiệm kỳ
này là Quốc hội đã trực tiếp thành lập các đoàn giám sát chuyên đề thay vì ủy quyền
cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập và triển khai thực hiện như trước đây.
Việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước tiếp tục được nâng cao chất
lượng và ngày càng thực chất hơn, bảo đảm lợi ích quốc gia, phù hợp với ý chí,

1.10 Page 10

▲back to top
nguyện vọng của Nhân dân, tạo ra những tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
Về đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, nhiệm kỳ này đánh dấu bước
tiến vượt bậc của Quốc hội trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt
động của Quốc hội. Việc đổi mới cách thức thảo luận từ Quốc hội “tham luận” sang
Quốc hội “tranh luận” cũng là một điểm nhấn quan trọng tại nhiệm kỳ này; Quốc
hội tiếp tục có nhiều đổi mới trong cách thức tổ chức kỳ họp Quốc hội để thích nghi
trong mọi hoàn cảnh. Điển hình nhất là tại kỳ họp thứ 9, lần đầu tiên trong lịch sử,
Quốc hội đã tổ chức kỳ họp theo hình thức kết hợp giữa họp trực tuyến và họp tập
trung để đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Hoạt động đối ngoại
của Quốc hội phát huy vai trò là kênh đối ngoại quan trọng, vừa mang tính đối ngoại
nhà nước, vừa mang tính nhân dân sâu sắc, đóng góp tích cực vào thành công chung
trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, như: đăng cai tổ
chức thành công Hội nghị Diễn đàn Nghị viện Châu Á -Thái Bình Dương lần thứ 26
(APPF-26) vào năm 2018, Quốc hội Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch AIPA và
tổ chức Đại hội đồng Liên nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á lần thứ 41
(AIPA-41) trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã thể hiện vai trò
thành viên chủ động, tích cực, đối tác tin cậy và trách nhiệm của Việt Nam và Quốc
hội Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần quan trọng duy trì môi trường hòa bình,
ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và thế giới..
Quốc hội khóa XV (2021 - 2026): tổ chức bầu ngày 23/5/2021 trong bối cảnh
bùng phát dịch bệnh Covid-19, một đại dịch toàn cầu chưa từng có tiền lệ. Tuy nhiên,
gần 70 triệu cử tri cả nước đã tham gia bỏ phiếu (đạt tỉ lệ 99,6% - tỷ lệ cao nhất từ
trước đến nay), bầu ra 499 đại biểu Quốc hội đại diện cho cho các tầng lớp Nhân
dân, thành phần xã hội.
Về cơ cấu tổ chức, Quốc hội khoá XV so với các khoá trước đây thể hiện tư
duy đột phá, một bước đi quyết liệt trong việc thực hiện chủ trương của Đảng về
thực hiện sắp xếp tinh gọn bộ máy, hệ thống chính trị, qua đó, góp phần đổi mới
mạnh mẽ tổ chức, hoạt động của Quốc hội, bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả
theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền trong giai đoạn mới. Công tác lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV được
triển khai với tinh thần “lập pháp chủ động”, bám sát thực tiễn, có nhiều cách làm
mới, linh hoạt, hiệu quả, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Số lượng các luật, nghị
quyết được thông qua trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV tăng lên qua từng kỳ họp.

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
Tính riêng số lượng luật, nghị quyết được thông qua trong năm 2024 nhiều nhất từ
đầu nhiệm kỳ tới nay với 31 luật, 42 nghị quyết (chiếm gần 50% tổng số nhiệm vụ
lập pháp đã hoàn thành từ đầu nhiệm kỳ đến nay). Riêng Kỳ họp thứ 8, Quốc hội
khóa XV đã thông qua 18 luật, gần bằng 1/3 tổng số luật được thông qua từ đầu
nhiệm kỳ với chất lượng đáp ứng được yêu cầu, được cử tri và Nhân dân đánh giá
cao.
Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XV
Hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước của đã đáp ứng
kịp thời những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn đặt ra. Trong giai đoạn ứng phó, thích
ứng với đại dịch Covid-19 cũng như phục hồi phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch,
Quốc hội đã xem xét, quyết định nhiều chủ trương, chính sách lớn, cơ chế, quy định
đặc thù trong phòng, chống dịch Covid-19, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, nền kinh
tế chống chịu vượt qua những tác động của đại dịch; các chính sách tài khoá, tiền tệ
hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội với quy mô chưa từng có.
Giai đoạn đổi mới và tạo bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội, Quốc hội đã thông
qua các Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội với nhiều nhiệm vụ, giải pháp có
tính mới, đột phá, trọng tâm, trọng điểm làm căn cứ để Chính phủ tập trung chỉ đạo,
điều hành.
Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã cho ý kiến về việc sửa đổi Hiến pháp 2013
và sửa đổi các luật liên quan nhằm phục vụ việc tinh gọn bộ máy theo tinh thần Nghị
quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả. Đây là thành tựu mang tính lịch sử, tạo cơ sở pháp lý thuận

2.2 Page 12

▲back to top
lợi quyết định thành công của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, tạo động lực đưa
đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát của Quốc hội khoá XV được tăng cường và đổi mới, ngày
càng thể hiện tính linh hoạt, nhạy bén trước những vấn đề lớn, nổi lên trong đời sống
kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu “không ngừng đổi mới
và đẩy mạnh công tác giám sát là khâu trọng tâm, then chốt để nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của Quốc hội”.
Hoạt động ngoại giao nghị viện tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều thành tựu
nổi bật trên cả hai bình diện song phương và đa phương. Trong nhiệm kỳ Quốc hội
khóa XV, lần đầu tiên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cùng Chủ tịch Quốc hội
Campuchia và Chủ tịch Quốc hội Lào ký Tuyên bố chung thiết lập cơ chế Hội nghị
cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV); Quốc hội Việt Nam
đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9; các thỏa thuận
hợp tác quốc tế được ký kết giữa Quốc hội Việt Nam với Quốc hội các nước... Những
kết quả này đã góp phần thúc đẩy ngoại giao nghị viện và hoạt động đối ngoại của
Đảng, Nhà nước, tạo thuận lợi thúc đẩy tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế.