Luc luong vu trang cang danh cang manh cang phat trien

Luc luong vu trang cang danh cang manh cang phat trien

1 Page 1

▲back to top
Lực lượng vũ trang càng đánh, càng mạnh, càng phát triển
Lê Nguyễn Vĩnh
Đường lối của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là tiếp tục hoàn
thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ,
tự lực cánh sinh. Đặc trưng của cuộc kháng chiến là đấu tranh vũ trang giữ vai trò quyết định.
Phù hợp với đặc trưng đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức coi trọng xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, chống lại công cụ chủ yếu của thực
dân Pháp là đội quân xâm lược nhà nghề.
Lực lượng vũ trang nhân dân
ta do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
xây dựng, tổ chức và phát triển theo
mô hình ba thứ quân bộ đội chủ lực,
bộ đội địa phương, dân quân, tự vệ,
du kích.
Sau Cách mạng Tháng Tám,
cả nước đã có gần một triệu chiến sĩ
quân đội, tự vệ trực tiếp đánh giặc,
bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ
nhân dân. Thực dân Pháp trở lại xâm
được nước ta, theo lời kêu gọi của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đứng
lên chống quân xâm lược. Đồng chí
Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng lúc đó đã dự báo: Trong thời kỳ đầu của cuộc kháng
chiến, lực lượng vũ trang của nhân dân ta mới chia làm hai hạng: quân chính quy và dân
quân... Nhưng rồi đây, lực lượng đó có thể bao gồm ba hình thức như sau: quân chủ lực, bộ
đội địa phương và dân quân. Dự báo khoa học này đã trở thành hiện thực trong quá trình phát
triển của cuộc kháng chiến.
Bộ đội chủ lực, trong quá trình kháng chiến, từ những đơn vị nhỏ, vừa như đại đội, tiểu
đoàn, trung đoàn bộ binh, phát triển lên thành đại đoàn. Đây là lực lượng tinh nhuệ nhất của
ba thứ quân, được trang bị, huấn luyện tốt, có sức chiến đấu cao. Bộ đội chủ lực giữ vị trí
chiến lược chủ yếu trong đấu tranh vũ trang, có chức năng nhiệm vụ cơ bản là thực hiện những
đòn đánh tiêu diệt lớn lực lượng chủ lực của địch, giải phóng và bảo vệ những vùng đất đai
quan trọng, phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích, dân quân tự vệ, thực hiện
những đòn đánh quyết định trên hướng chiến lược chủ yếu làm chuyển biến cục diện chiến
tranh có lợi cho ta, tiến lên đánh bại ý chí của quân xâm lược, kết thúc thắng lợi cuộc chiến
tranh.
Xu hướng phát triển của bộ đội chủ lực là từ những đội du kích tiến lên những đơn vị
bộ đội được tập trung lực lượng, phương tiện và trở thành những đại đoàn mạnh. Xuất hiện
lần đầu trong cuộc tiến công quân địch ở biên giới Việt-Trung với quy mô tổ chức đại đoàn
bộ binh (9-1950), với thắng lợi vang dội, các đại đoàn của bộ đội chủ lực ta liên tiếp hoàn

2 Page 2

▲back to top
thành chức năng và nhiệm vụ của mình trong các chiến dịch tấn công Hòa Bình (2-1952), Tây
Bắc (10-1952) bằng những quả đấm chiến lược. Bộ đội chủ lực ta đã đạt được bước phát triển
nhảy vọt trong chiến cuộc đông xuân 1953-1954, khi nhiều đại đoàn mới ra đời đã hình thành
tập đoàn chiến lược mạnh tiêu diệt tập đoàn phòng ngự mạnh nhất của địch ở Điện Biên Phủ,
đạt hiệu lực chiến lược lớn nhất, góp phần quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp.
Bộ đội chủ lực với sự phát triển mạnh mẽ của chiến tranh chính quy đã hỗ trợ và tạo
điều kiện phát triển chiến tranh du kích, thúc đẩy đấu tranh chính trị, nổi dậy vũ trang của
quần chúng trong vùng địch tạm kiểm soát, hỗ trợ đắc lực cho công tác binh vận, địch vận,
bảo vệ và phát triển vùng tự do, hậu phương của cuộc kháng chiến.
Bộ đội địa phương do Chủ tịch Hồ Chi Minh ra sắc lệnh thành lập từ 1-4-1949 được
hình thành và phát triển từ những đội du kích của các chiến khu, các địa phương từ những
trung đội, đại đội bộ binh, từ những đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập
trung, tiến lên thành các tiểu đoàn mạnh, trung đoàn mạnh của tỉnh, thành phố, quân khu phù
hợp với nhiệm vụ, điều kiện cụ thể của địa phương, của từng chiến trường. Trong quá trình
kháng chiến bộ đội địa phương được xây dựng phát triển trong từng huyện, tỉnh, thành phố,
theo biên chế tương đối thống nhất, được huấn luyện phù hợp với nhiệm vụ, trang bị và vũ
khí chủ yếu là lấy của địch. Nhiệm vụ của bộ đội địa phương là làm nòng cốt cho đấu tranh
vũ trang ở địa phương, là lực lượng tác chiến tại chỗ, tiêu diệt tiêu hao quân địch, bảo vệ địa
phương, phối hợp với bộ đội chủ lực và dân quân du kích tiến hành những đợt hoạt động tác
chiến đến các chiến dịch tiến công và phản công, chống càn tại địa phương, hình thành và
phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, chia cắt, phân tán, bao vây quân địch. Bộ đội địa
phương còn hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh chính trị, nổi dậy phá tề trừ gian của nhân dân trong
vùng địch tạm chiếm, chống âm mưu gom dân, bắn phá, càn quét, bắt lính, tham gia diệt tề,
trừ gian, làm tan rã hàng ngũ địch, bảo vệ cơ sở chính trị, căn cứ hậu phương của nhân dân.
Bộ đội địa phương vừa tổ chức những đơn vị chiến đấu tập trung, vừa phân thành những đơn
vị nhỏ, vừa tác chiến tập trung, vừa tác chiến du kích.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trình độ tác chiến, hiệu suất chiến đấu của
bộ đội địa phương của ta trong cả nước khá cao, phổ biến là tiêu diệt được trung đội, đại đội,
đồn bốt. Vào thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến, bộ đội địa phương có nơi còn tiêu diệt được
cả tiểu đoàn địch.
Dân quân du kích, dân quân tự vệ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là lực lượng của toàn
dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch nhân hung
tàn thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, thì địch nào cũng phải tan rã” (Hồ Chí Minh: Toàn
tập, NXBCTQG, Hà Nội, 1995, t.5, tr.132). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng dân quân
du kích, dân quân tự vệ phát triển mạnh mẽ, rộng lớn trong khắp thôn, bản làng, xã với số
lượng hàng triệu, biểu hiện thực sự “mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo
đài” trong cuộc kháng chiến. Nhiệm vụ của dân quân du kích là nền tảng của toàn dân đánh
giặc, là lực lượng bám trụ tại chỗ để đánh giặc, bảo vệ làng xóm, theo dõi, trinh sát, tiêu hao,
tiêu diệt quân địch rộng khắp, liên tục, gian chân, phân tán, chia cắt, bao vây quân địch, làm
cho chúng mệt mỏi, đui mù, đói khát; là lực lượng xây dựng, phát triển thế trận chiến tranh
nhân dân; là cơ sở để phát triển lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh du kích và chiến

3 Page 3

▲back to top
tranh chính quy; là công cụ bạo lực vũ trang bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân
dân ở cơ sở.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân quân du kích được tổ chức rộng
khắp, với hình thức phong phú, linh hoạt, phù hợp với nhiệm vụ và điều kiện lịch sử cụ thể.
Có du kích thoát ly, du kích tập trung dân quân không thoát ly, có cả đội, tổ, nhóm, trung đội,
đại đội, có cả du kích tự vệ công khai và bí mật. Dân quân du kích là lực lượng chủ yếu cùng
toàn dân xây dựng, phát triển “làng chiến đấu”, “đường phố là trận địa” phát triển chiến tranh
du kích.
Mối quan hệ giữa ba thứ quân trong quá trình kháng chiến là quan hệ đoàn kết, hiệp
đồng chặt chẽ, phát huy thắng lợi của nhau, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau đánh giặc cứu
nước. Mối quan hệ đó bắt nguồn từ mục tiêu chiến đấu tiêu diệt địch, bảo vệ mình, từ sự lãnh
đạo tập trung, thống nhất, trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, từ khối đoàn kết toàn dân
tộc, toàn dân đánh giặc.
Xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội
địa phương, dân quân tự vệ là hình mẫu tổ chức quân sự sáng tạo của Đảng và nhân dân ta -
hình mẫu tổ chức quân sự mang tính dân chủ rộng lớn, tính nhân dân sâu sắc.
Nguồn: Sự kiện và nhân chứng, số 129, tháng 9/2004, tr. 4 – 5.