Quan doi nhan dan Viet Nam phat huy suc manh tong hop

Quan doi nhan dan Viet Nam phat huy suc manh tong hop

1 Pages 1-10

▲back to top

1.1 Page 1

▲back to top
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP, XÂY DỰNG
TIỀM LỰC CHÍNH TRỊ, TINH THẦN VÀ TIỀM LỰC
QUÂN SỰ, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU SỰ NGHIỆP XÂY
DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ MỚI
TRỊNH VĂN QUYẾT
Thượng tướng, Bí thư Trung ương Đảng,
Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương,
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
TCCS - Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực quân sự là vấn đề chiến
lược và hệ trọng; là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, trong
đó Quân đội nhân dân là nòng cốt. Phát huy kết quả đạt được, Quân đội tiếp tục thực
hiện đồng bộ chủ trương, giải pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành,
các tầng lớp nhân dân nhằm xây dựng tiềm lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia,
trọng tâm là tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực quân sự vững mạnh, góp phần xây
dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Tiềm lực chính trị, tinh
thần, tiềm lực quân sự của nền
quốc phòng toàn dân
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí
Minh từng căn dặn: “Mọi người đều
có trách nhiệm làm cho dân giàu
nước mạnh, quốc phòng vững
mạnh”(1). Thực hiện lời dạy của
Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi
xây dựng nền quốc phòng toàn dân
nói chung, xây dựng tiềm lực chính
trị, tinh thần, tiềm lực quân sự nói
riêng là chủ trương chiến lược, quan
trọng, xuyên suốt; không chỉ góp phần nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc
Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy, mà còn tạo sự ổn định, góp phần phát
triển kinh tế, xã hội trên từng địa bàn và cả nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác
định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh...; xây dựng và củng cố vững chắc

1.2 Page 2

▲back to top
thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(2); “có cơ chế huy động nguồn
lực từ địa phương và nguồn lực xã hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại
các khu vực phòng thủ”(3).
Tiềm lực chính trị, tinh thần “là thành tố cơ bản của tiềm lực quốc phòng, chứa
đựng trong tố chất con người, truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và trong hệ thống
chính trị; là khả năng tiềm tàng về chính trị có thể huy động nhằm tạo ra sức mạnh để
thực hiện nhiệm vụ quốc phòng”(4). Tiềm lực đó không phải là vấn đề trừu tượng, mà thể
hiện trước hết ở sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng chủ nghĩa Mác
- Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng đúng đắn, hợp lòng dân. Đồng
thời, được biểu hiện ở nhận thức, niềm tin, tâm lý, tình cảm, trách nhiệm, ý chí của nhân
dân và lực lượng vũ trang đối với nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; sự giác ngộ
sâu sắc mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lòng yêu nước nồng nàn,
khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, kiên quyết đấu tranh để giải phóng dân tộc, với chân
lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; sự đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại,...
Tiềm lực chính trị, tinh thần là “linh hồn”, “kết dính” mọi lực lượng, hội tụ mọi
nguồn lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc để chiến thắng mọi kẻ thù và để xây
dựng đất nước. Thực tiễn đã chứng minh, nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của
Đảng; tình cảm cách mạng, niềm tin và ý chí quyết tâm, quân và dân ta đã phát huy cao
độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh của các phương tiện vật chất, vũ khí, trang
bị kỹ thuật hiện có, chiến thắng kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn
ta nhiều lần. Đúng như V.I. Lê-nin từng khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt
cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến
trường”(5). Vì vậy, xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần sẽ quyết định khả năng huy
động các tiềm lực khác của nền quốc phòng.
Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần phải bảo đảm toàn diện cả về nhận thức, tư
tưởng, tâm lý, tình cảm, niềm tin, thái độ, trách nhiệm chính trị đối với Tổ quốc và nhân
dân. Trước hết, đó là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân vào
sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa; coi trọng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, giáo dục chủ nghĩa yêu
nước, ý thức tự tôn dân tộc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện chính
sách tự do tôn giáo và bình đẳng giữa các dân tộc; phát huy dân chủ rộng rãi theo phương
châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; kiên quyết
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm an sinh xã hội, không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; thực hiện chính sách ưu tiên phát triển
kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, tạo
sự phát triển bền vững, xây dựng nước ta ngày càng phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Tiềm lực quân sự “là khả năng về sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân,
Dân quân tự vệ và khả năng huy động nhân lực, vật lực phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc

1.3 Page 3

▲back to top
phòng”(6). Tiềm lực quân sự bao gồm các yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, cơ sở vật
chất, kỹ thuật, nghệ thuật quân sự, thế trận quân sự..., trong đó con người là nhân tố quyết
định. Tiềm lực quân sự có hai dạng: hiện có và tiềm tàng. Dạng hiện có là số lượng, chất
lượng của lực lượng vũ trang và lực lượng, phương tiện dự bị thường xuyên, được duy
trì, không ngừng phát triển, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ
quốc. Dạng tiềm tàng là nguồn dự trữ về sức người, sức của trên các lĩnh vực công
nghiệp, nông nghiệp, khoa học, kỹ thuật, giao thông vận tải và các ngành dịch vụ khác...,
sẵn sàng được huy động để phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chiến tranh khi có
tình huống xảy ra.
Tiềm lực quân sự là bộ phận nòng cốt của tiềm lực quốc phòng, được xây dựng
trên các nền tảng chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ,... của
đất nước, theo chiến lược thống nhất, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Các nền tảng này phát triển vững mạnh sẽ là cơ sở quan trọng để tạo nên sức
mạnh quân sự bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, không phải cứ có các nền tảng này là có tiềm
lực quân sự mạnh, mà còn phụ thuộc vào cơ chế, chính sách, khả năng huy động và phát
huy tối đa các yếu tố đó cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Do đó, đòi
hỏi có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, cơ sở pháp
lý, kế hoạch, sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân,...; đồng thời, lực lượng vũ trang
nhân dân phải được xây dựng, huấn luyện có chất lượng cao, số lượng và cơ cấu hợp lý,
có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy giỏi, có nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo,...
Tiềm lực chính trị, tinh thần và tiềm lực quân sự là các thành tố cốt lõi, cơ bản
nhất của tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng tiềm lực chính trị,
tinh thần và tiềm lực quân sự là xây dựng tổng hợp các nhân tố, trước hết là xây dựng
lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân có chất lượng tổng hợp, sức
mạnh chiến đấu cao; là lực lượng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước
và nhân dân. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả để củng cố niềm tin, tăng cường sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân vào
sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Xây dựng và phát huy nguồn
lực con người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong
sáng, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển khoa học, công nghệ; xây dựng nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa trong tình hình mới.
Trong quá trình xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực quân sự phải quán
triệt, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về
quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Phát huy sức mạnh tổng hợp, tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của các cấp, các ngành, các địa phương; khai thác tốt khả năng, nguồn lực
của đất nước để xây dựng và củng cố các tiềm lực. Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại

1.4 Page 4

▲back to top
với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; bảo đảm hài hòa giữa tăng cường tiềm lực
quốc phòng với nâng cao đời sống của bộ đội và nhân dân. Thực hiện tốt đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; kiến tạo, giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển bền vững
đất nước.
Quân đội phát huy sức
mạnh tổng hợp, tăng cường xây
dựng tiềm lực chính trị, tinh
thần và tiềm lực quân sự trong
tình hình mới
Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự
quản lý, điều hành tập trung,
thống nhất của Nhà nước, Quân
đội nhân dân đã phát huy vai trò
nòng cốt, sức mạnh tổng hợp,
cùng toàn dân xây dựng và củng
cố tiềm lực chính trị, tinh thần,
tiềm lực quân sự vững mạnh, góp
phần to lớn vào thực hiện mục
tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa
xã hội, với nhiều thành tựu nổi bật. Quân đội đã chủ động nghiên cứu, tham mưu với
Đảng, Nhà nước xây dựng, ban hành các nghị quyết, chính sách, pháp luật về xây dựng
nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân
dân, nhất là “thế trận lòng dân” vững chắc; tích cực thể chế hóa chủ trương, đường lối
của Đảng trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc(7). Coi trọng và tổ chức
tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng
viên, chiến sĩ và toàn dân về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình
hình mới. Nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo
tiền đề vững chắc năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện
đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Trong thời gian tới, cùng với xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, việc các nước
lớn tiếp tục vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tranh thủ tập hợp
lực lượng để can dự, chi phối nội bộ nước khác đang đặt ra thách thức nghiêm trọng. Ở
trong nước, ngoài “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt
hơn”(8), chúng ta còn phải đối mặt với mâu thuẫn phát sinh trong quá trình phát triển; các
mối đe dọa về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống luôn thường trực và hiện
hữu; các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá quyết liệt trên tất cả lĩnh vực của đời sống
xã hội,...

1.5 Page 5

▲back to top
Tình hình đó đặt ra yêu cầu Quân đội nhân dân tiếp tục phát huy sức mạnh tổng
hợp của các lực lượng và các lĩnh vực, tập trung xây dựng tiềm lực và sức mạnh tổng
hợp của quốc gia, của nền quốc phòng toàn dân; trọng tâm là tiềm lực chính trị, tinh thần,
tiềm lực quân sự với nội dung chủ yếu sau:
Một là, chủ động, tích cực phát huy vai trò tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước
ban hành, hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật về phát huy sức mạnh tổng hợp,
xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần và tiềm lực quân sự.
Đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh là cơ sở để Nhà nước thể
chế hóa, cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật nhằm thực hiện hiệu quả chức năng quản
lý nhà nước; điều chỉnh quan hệ xã hội trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân. Theo đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phối hợp với
các ban, ngành ở Trung ương và địa phương tham mưu, đề xuất với Đảng tiếp tục hoàn
thiện đường lối lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, làm cơ sở để Nhà nước thể chế hóa,
hoàn thiện chính sách, pháp luật về lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Kịp thời tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, tạo cơ sở chính trị - pháp lý để cấp ủy, tổ chức
đảng, chính quyền các cấp lãnh đạo, tổ chức phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống
chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng tiềm lực chính trị, tinh
thần, tiềm lực quân sự của nền quốc phòng toàn dân đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu,
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Các cơ quan, đơn vị Quân đội cần chủ động phối hợp với các ban, ngành ở Trung
ương và địa phương nắm chắc tình hình thực tiễn, thực hiện tốt việc sơ kết, tổng kết,
đánh giá đúng thành tựu, kết quả đạt được, hạn chế, khuyết điểm, xác định rõ nguyên
nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó, tham mưu, đề xuất hoàn thiện đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ quân sự,
quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức quốc phòng, an ninh
cho các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Nâng cao ý thức quốc phòng cho toàn dân, nhất là thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên
và bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành
là vấn đề quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp trong xây dựng tiềm lực chính trị,
tinh thần, tiềm lực quân sự.
Tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội trong phối hợp với các ban, ngành
ở Trung ương, cấp ủy, chính quyền các địa phương, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức
trong hệ thống chính trị, lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai chặt chẽ, toàn diện công tác giáo
dục kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng được giáo dục, bồi dưỡng về
kiến thức quốc phòng và an ninh. Việc tổ chức giáo dục và bồi dưỡng kiến thức quốc
phòng và an ninh cần phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng và không ngừng
đổi mới, đi vào chiều sâu, với nội dung, hình thức, phương pháp sáng tạo, hiệu quả. Chú

1.6 Page 6

▲back to top
trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về “đối tác” và “đối tượng”, nắm vững
đường lối, quan điểm, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Coi trọng
giáo dục kiến thức quốc phòng và an ninh kết hợp với giáo dục chính trị, đạo đức cách
mạng cho thế hệ trẻ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh công
tác phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân cả về bề rộng và chiều sâu,
với nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với nhận thức, đặc điểm địa bàn,
dân cư và từng đối tượng.
Tiếp tục đổi mới cơ chế, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Quân đội với các ban,
ngành, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở, lực lượng có liên quan cùng các cơ quan báo
chí và truyền thông trong tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức quốc phòng, an ninh
cho các tầng lớp nhân dân. Cơ quan, đơn vị quân đội cần chú trọng tổ chức các tổ, đội
công tác và thông qua hoạt động kết nghĩa, giao lưu văn nghệ, thể thao, các ngày lễ, tết,
sự kiện quan trọng,... để tuyên truyền, giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm
vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân
hiểu rõ mục tiêu, quan điểm, yêu cầu, nội dung, biện pháp và giải pháp xây dựng tiềm
lực chính trị, tinh thần, tiềm lực quân sự; phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, chung sức, đồng lòng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ
vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
chính trị của đơn vị và địa phương.
Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, thuyết phục
với kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu
xuyên tạc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của
Đảng, qua đó, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn hoạt
động “diễn biến hòa bình”, chống phá của các thế
lực thù địch. Bồi đắp lòng yêu nước, yêu chế độ xã
hội chủ nghĩa, niềm tự hào, tự tôn dân tộc và truyền
thống cách mạng, xây dựng ý chí quyết tâm bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; nâng cao kiến thức về
quốc phòng, an ninh cùng kỹ năng quân sự cần
thiết để mỗi công dân sẵn sàng tham gia, thực hiện
tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng.
Ba là, tích cực tham gia phát triển kinh tế -
xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân; quy tụ, tập hợp và phát huy vai trò của nhân dân, để nhân dân tự nguyện, tự
giác tham gia xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực quân sự, bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với sự phát triển của đất nước, hiện nay đời sống của các tầng lớp nhân dân
được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, đời sống của một bộ phận nhân dân vẫn còn nhiều khó
khăn, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, một số địa bàn chiến lược.

1.7 Page 7

▲back to top
Vì vậy, cơ quan, đơn vị quân đội tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình và nhiệm vụ của địa phương; phối
hợp với các ban, ngành ở Trung ương và địa phương tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính
quyền các cấp chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đẩy mạnh các mô hình, chương
trình ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ để nâng cao chất lượng, hiệu quả sản
xuất; đào tạo nghề cho quân nhân xuất ngũ và các đối tượng khác. Tích cực tham gia các
chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo, các cuộc vận động, phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Quân đội chung sức
xây dựng nông thôn mới”, “Quân đội chung tay vì sức khỏe cộng đồng”, “Quân đội
chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”... Thực hiện tốt chế độ, chính
sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội, các phong trào, hoạt động “Đền ơn đáp
nghĩa”, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh
hùng, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; giải quyết chế độ, chính sách tồn đọng đối với đối
tượng có cống hiến trong các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế.
Tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xóa bỏ tập tục lạc
hậu, thực hiện “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”,...
Các đơn vị quân đội cần làm tốt nhiệm vụ “chiến đấu” trong thời bình, chủ động,
không ngại gian khổ, hy sinh, cùng nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai,
dịch bệnh, hạn chế tối đa thiệt hại về người, tài sản của Nhà nước và nhân dân. Tiếp tục
xây dựng, nâng cao chất lượng, hiệu quả các khu kinh tế - quốc phòng, góp phần tổ chức
lại dân cư, ổn định sinh kế, cuộc sống của đồng bào. Tổ chức hướng dẫn người dân ứng
dụng khoa học vào sản xuất theo kỹ thuật mới, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu nhằm
thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội,
góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương, xây dựng lực lượng tại chỗ để bảo
vệ địa bàn, bảo vệ biên giới, đáp ứng nhiệm vụ tác chiến khi chiến tranh xảy ra.
Bốn là, tích cực tham gia xây dựng cơ sở, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững
mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc.
Quán triệt chủ trương của Đảng, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng cơ
sở vững mạnh(9), cơ quan, đơn vị quân đội thực hiện tốt chức năng đội quân công tác,
tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở ở địa bàn chiến lược, trọng điểm,
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Trên từng địa bàn đóng quân, cùng với thực hiện
tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, tổ chức hiệu quả hoạt động kết nghĩa, ký
kết chương trình phối hợp; chủ động cử tổ, đội công tác phối hợp với cấp ủy, chính
quyền, đoàn thể địa phương xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, góp phần
cụ thể hóa và thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta phải ra sức
hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân hơn nữa trong việc sản xuất và tiết kiệm, để cải thiện đời
sống của bộ đội và nhân dân, để làm cho dân giàu, nước mạnh. Có như thế nhân dân mới

1.8 Page 8

▲back to top
càng thấy Chính phủ hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, Chính phủ là Chính phủ của
nhân dân. Như thế, nhân dân sẽ càng hăng hái đoàn kết và kháng chiến”(10).
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, đảng viên Bộ đội Biên phòng
tăng cường cho các xã biên giới, địa bàn đặc biệt khó khăn, tham gia sinh hoạt tại các chi
bộ thôn, bản biên giới theo Kết luận số 68-KL/TW, ngày 5-2-2020, của Ban Bí thư. Thực
hiện tốt công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ; tạo nguồn, phát triển đảng viên,
đào tạo cán bộ quân sự xã, phường, thị trấn, bổ sung lực lượng đảng viên, cán bộ cho các
địa phương. Thông qua hoạt động giao lưu, kết nghĩa, tập huấn, giúp cấp ủy, tổ chức
đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở nâng cao
chất lượng, hiệu quả hoạt động, tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh,
phát huy dân chủ ở cơ sở,...
Cơ quan, đơn vị tăng cường chỉ đạo làm tốt công tác nắm, đánh giá, dự báo đúng
tình hình trên từng địa bàn, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an và các lực lượng
liên quan đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình”,
hòng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phòng, chống tội phạm, xử lý kịp thời,
hiệu quả tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ, giữ vững an ninh
chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt các nghị quyết của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; đấu tranh ngăn chặn hoạt
động truyền đạo trái pháp luật, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn
đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá. Tăng cường tuyên truyền, vận
động và sát cánh, đồng hành cùng nhân dân vươn khơi, bám ngư trường, bám biển, kiên
quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, an ninh biên
giới quốc gia...
Năm là, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ
trang; tập trung xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị; phát triển nền
công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng.
Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại;
đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn
đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện
đại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng,
toàn dân và cả hệ thống chính trị, trước hết là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp
ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Toàn quân tăng cường công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng,
kiên định mục tiêu, lý tưởng, tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Triển
khai đồng bộ giải pháp xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh theo tinh thần Nghị quyết số
05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày
2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân

1.9 Page 9

▲back to top
Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Tích cực đổi mới, nâng cao
chất lượng đào tạo, huấn luyện, diễn tập, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, hoạt
động công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật; bảo đảm
hậu cần, kỹ thuật; nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận; tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến
tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIV của Đảng.
Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng
về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng tâm là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI,
XII), Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, các quy định của Đảng về trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên và về những điều đảng viên không được làm. Triển
khai thực hiện hiệu quả Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, của Bộ Chính trị, về
“Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới”, gắn với
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 847-
NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, “Về phát huy phẩm chất “Bộ
đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Chú trọng thực
hiện đồng bộ cơ chế, chính sách về thu hút, trọng dụng nhân tài trong Quân đội; chủ động
đề xuất và triển khai thực hiện chính sách đặc thù, đột phá. Tập trung xây dựng đội ngũ
cán bộ theo tinh thần “7 dám” (dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám
đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích
chung); xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự là hạt nhân lãnh
đạo, đoàn kết ở đơn vị; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối
với Quân đội. Phối hợp với cấp ủy, chính quyền các địa phương, các ngành tăng cường
lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng
cao, dân quân, tự vệ vững mạnh, rộng khắp; coi trọng lực lượng dân quân, tự vệ biển và
dân quân, tự vệ ở các địa bàn trọng điểm.
Quán triệt, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 21-6-2022, của Bộ
Chính trị, “Về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những
năm tiếp theo”; đẩy mạnh xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường,
lưỡng dụng, hiện đại, trong đó phát huy nội lực là yếu tố quyết định; gắn kết chặt chẽ và
trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Phấn đấu để công nghiệp quốc phòng đủ
năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật có tính năng
chiến thuật - kỹ thuật cao theo yêu cầu trang bị cho lực lượng vũ trang, đáp ứng nhiệm
vụ xây dựng Quân đội hiện đại. Làm chủ được thiết kế, công nghệ nền, đặc biệt là công
nghệ lõi, tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm; phát triển lĩnh vực mũi nhọn trên cơ sở công
nghệ mới, hiện đại, tạo sức cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu;
từng bước chuyển giao công nghệ phù hợp cho công nghiệp dân sinh. Qua đó, góp phần
xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực quân sự và hiện thực hóa các tiềm lực

1.10 Page 10

▲back to top
thành sức mạnh lực lượng vũ trang của toàn dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự,
quốc phòng.
Sáu là, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân trong xây
dựng tiềm lực chính trị, tinh thần và tiềm lực quân sự của nền quốc phòng toàn dân.
Với vai trò nòng cốt và chức năng, nhiệm vụ được giao, Quân đội nhân dân tiếp
tục phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và toàn dân
trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng; nâng cao tính bền vững và khả
năng huy động đáp ứng yêu cầu trong tình huống quốc phòng. Theo đó, Quân đội tiếp
tục phối hợp với các ban, ngành ở Trung ương và địa phương thực hiện hiệu quả Nghị
quyết số 28-NQ/TW, ngày 22-9-2008 và Kết luận số 64-KL/TW, ngày 30-10-2019, của
Bộ Chính trị, Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22-02-2019, của Chính phủ, về nâng
cao chất lượng xây dựng và hoạt động khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, gắn kết chặt chẽ
với thế phòng thủ của quân khu và cả nước. Tập trung xây dựng thế trận, công trình của
khu vực phòng thủ; trong đó, xây dựng thế trận quân sự là hạt nhân, quyết định sự vững
chắc của khu vực phòng thủ, được liên kết chặt chẽ với các thế trận khác tạo thành thế
trận liên hoàn, vững chắc, để chủ động ngăn ngừa, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn,
hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Giữ vững ổn
định chính trị, môi trường hòa bình để phát triển kinh tế - xã hội; xử lý hiệu quả tình
huống về quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới; sẵn sàng đánh
thắng chiến tranh xâm lược, bảo vệ địa phương, góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Các ngành, địa phương thực hiện tốt chủ trương kết hợp chặt chẽ, hiệu
quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong các lĩnh
vực, các vùng kinh tế, các ngành, trong từng dự án, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm,
các địa bàn chiến lược, các ngành quan trọng; bảo đảm mỗi bước tăng trưởng kinh tế là
mỗi bước tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, tạo nguồn dự trữ về sức người, sức
của phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực quân sự là nội dung quan trọng để
nâng cao sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề lớn, hệ trọng, chiến lược,
thường xuyên; là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị; trong đó,
Quân đội nhân dân là nòng cốt. Phát huy truyền thống 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến
thắng và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam quyết tâm thực hiện chủ trương,
giải pháp, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, ngành, các tầng lớp nhân dân, xây
dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, tiềm lực quân sự vững mạnh, góp phần xây dựng và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.
-----------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 13, tr.
264
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật,
Hà Nội, 2021, t. I, tr. 157

2 Pages 11-20

▲back to top

2.1 Page 11

▲back to top
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 159
(4) Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 38
(5) V. I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 41, tr. 147
(6) Quốc phòng Việt Nam 2019, Sđd, tr. 44
(7) Tiêu biểu như: Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22-9-2008, của Bộ Chính trị, “Về
tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững
chắc trong tình hình mới”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, XI, XIII về Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22-02-2019, của Chính
phủ, “Về khu vực phòng thủ”; Luật Quốc phòng năm 2018, Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015,
Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2008, 2014), Luật
Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015, Luật Biên giới quốc
gia năm 2003, Luật Dân quân tự vệ năm 2019, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018, Luật
Lực lượng dự bị động viên năm 2019, Luật Biên phòng Việt Nam năm 2020,...
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 108
(9) Chỉ thị số 58/TTg, ngày 15-2-1993, của Thủ tướng Chính phủ, về “Tăng cường
chỉ đạo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an
ninh trong tình hình mới”; Chỉ thị số 36/2005/CT-Ttg, ngày 17-10-2005, của Thủ tướng Chính
phủ, “Về tiếp tục chỉ đạo xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
quốc phòng, an ninh trong tình hình mới”,...
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 350
Nguồn: Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 11 tháng 11 năm 2024