Nhung tuong linh duoc Bac Ho dat ten

Nhung tuong linh duoc Bac Ho dat ten

1 Page 1

▲back to top
NHỮNG TƯỚNG LĨNH KHU 4 ĐƯỢC BÁC HỒ ĐẶT TÊN
NGUYỄN KHẮC THUẦN (tổng hợp)
* LÊ THIẾT HÙNG VỊ TƯỚNG ĐẦU TIÊN
CỦA QUÂN ĐỘI
Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, vị Tư lệnh đầu tiên của
LLVT Quân khu 4, sinh năm 1908 tại xã Thông Lạng (nay
là Hưng Thông), Hưng Nguyên, Nghệ An trong một gia
đình có truyền thống yêu nước. Thân sinh ông đã từng là
nghĩa quân của Phan Đình Phùng.
Tên thật của ông là Lê Văn Nghiệm (còn có tên
khác là Lê Trị Hoàn). Mùa thu 1923, được sự giới thiệu
của chí sỹ Võ Trọng Đà, ông cùng 12 bạn đồng môn trong
đó có Lê Hồng Phong (anh em con chú bác với ông) sang
Thái Lan rồi sang Quảng Châu hoạt động cách mạng.
Ông được gặp Lý Thụy (Bác Hồ, lúc đó đang ở Quảng Châu theo sự phân công của
quốc tê cộng sản về đây để xây dựng phong trào vô sản cho Đông Nam Á). Ông được
Bác đặt tên mới là Lê Quốc Vọng (nhớ về Tổ quốc) và gửi vào học ở Trường Quân sự
Hoàng Phổ. Tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phổ, ông được Bác Hồ giao nhiệm vụ
gia nhập vào Quân đội quốc dân Đảng để hoạt động. Ông được Bác Hồ đặt cho bí danh
là “Cây gỗ Mun” để bí mật liên lạc với tổ chức của ta. Ngày 15/10/1945 Chiến khu 4
được thành lập, ông được Bác Hồ giao nhiệm vụ làm Chỉ huy trưởng Chiến khu gồm
6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An , Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.
Cách mạng tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời
trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thù trong giặc ngoài. Theo Hiệp định sơ bộ
(6/3/1946), Chính phủ ta tổ chức “Tiếp phòng quân” để thay thế cho quân Tưởng và
cùng với quân Pháp giám sát việc “rút lui trong danh dự” của quân Tưởng. Thường vụ
Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn Lê Quốc Vọng làm chỉ huy trưởng Tiếp phòng quân.
Ngày tiễn ông lên đường nhận nhiệm vụ mới, Bác Hồ đặt cho ông cái tên mới Lê Thiết
Hùng với mong muốn: chất “thép”, chất “hùng” trong con người ông được phát huy
cao độ để hoàn thành trọng trách mới. Để tương đương với thiếu tướng chỉ huy Tiếp
phòng không quân của Pháp, Thường vụ TW Đảng và Bác Hồ đã quyết định phong
quân hàm Thiếu tướng cho Lê Thiết Hùng (Quyết định số 185 ngày 24/9/1946, Bộ
trưởng nội vụ Huỳnh Thúc Kháng ký). Và đến tháng 8/1948 Quân đội ta mới phong
quân hàm cấp Tướng lần thứ nhất vì thế lịch sử Quân đội gọi Lê Thiết Hùng là vị tướng
đầu tiên của Quân đội ta.

2 Page 2

▲back to top
* LƯỠNG QUỐC TƯỚNG QUÂN NGUYỄN SƠN
Thiếu tướng Nguyễn Sơn, Tư lệnh kiêm Chính uỷ
Liên khu 4, trong hai năm 1948 – 1949 tên thật là Vũ Nguyên
Bắc, sinh ngày 1/10/1908, mất ngày 21/10/1956. Quê ở làng
Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội.
Năm 1925, ông được Nguyễn Công Thụ do Nguyễn
Ái Quốc cử về nước vận động sang Trung Quốc hoạt động
cách mạng. Đến Quảng Châu, ông được gia nhập vào “đại
gia đình họ Lý” của Lý Thụy (Hồ Chí Minh), Lý Tống
(Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng (Lê Văn Đài), Lý Quý
(Trần Phú), Lý Trí Phương (Nguyễn Thị Minh Khai). Ông
được Bác đặt tên cho là Lý Anh Tự.
Tháng 11/1945, theo yêu cầu của Bác Hồ, ông trở về Việt Nam tham gia kháng
chiến. Ông được Bác đặt cho tên mới là Nguyễn Sơn, ý Bác là: “Giang Sơn, Tổ quốc
là trên hết”. Hai năm 1948 - 1949, ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu 4. Trong
đợt phong quân hàm Tướng đầu tiên của Quân đội ta (8/1948), ông được phong Thiếu
tướng. Năm 1950, ông trở lại Trung Quốc và được bổ nhiệm làm Phó Cục trưởng Cục
điều lệnh Tổng Giám bộ Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, kiêm Tổng biên tập
tạp chí “Huấn luyện chiến đấu”. Tháng 9/1956 ông được Nhà nước CHND Trung Hoa
phong quân hàm Thiếu tướng. Vì thế, ông được gọi là “Lưỡng quốc Tướng quân”
(tướng của hai nước).
* NGƯỜI CẬN VỆ CỦA BÁC HỒ Ở TÂN TRÀO
Thượng tướng Đàm Quang Trung tên thật là Đàm
Ngọc Lưu, dân tộc Tày, sinh ngày 12/9/1921 tại bản Nà
Nghiềng, xã Sơn Hà, huyện Hà Quảng tỉnh Cao Bằng trong
một gia đình truyền thống cách mạng. Đàm Ngọc Lưu tham
gia hoạt động cách mạng từ khi 14 tuổi. Tháng 2/1939, ông
được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương . Năm 1940
bị địch bắt giam quản thúc tại địa phương.
Tháng 3/1941, ông được tổ chức giúp đỡ thoát khỏi
sự quản thúc sang Tĩnh Tây (Trung Quốc) làm liên lạc cho
cơ quan lãnh đạo Đảng cộng sản Đông Dương. Tại đây ông
đã được gặp Nguyễn Ái Quốc, được Người đặt cho cái tên
mới Đàm Quang Trung và cử đi học ở Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) cùng
với các đồng chí Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm, Hoàng Minh Thảo, Vũ Lập...
Tháng 7/1944 ông trở về Tổ quốc, tham gia huấn luyện quân sự cho các đội du
kích ở vùng biên giới và được tín nhiệm cử làm Đội trưởng Đội bảo vệ Trung ương
Đảng và Chủ tich Hồ Chí Minh ở Tân Trào.

3 Page 3

▲back to top
Tháng 4/1958, ông được bổ nhiệm Phó tư lệnh Quân khu Tả Ngạn và được phong
quân hàm Đại tá. Tháng 3/1961 ông được điều động về giữ chức Tư lệnh Quân khu
Việt Bắc. Chiến sự ở miền Nam ngày càng quyết liệt, tháng 8/1966 ông được điều ra
mặt trận trong cương vị Tư lệnh tiền phương Bộ quốc phòng tại Mặt trận B5 Bắc Quảng
trị kiêm Phó Tư lệnh Quân khu 4. Ở nơi đụng đầu quyết liệt này ông đã lập nhiều chiến
công, là người trực tiếp chỉ huy tập kích Thành cổ Quảng Trị, Tư lệnh pháo binh mặt
trận, Tư lệnh xe tăng mặt trận, ông đã đóng góp vào kho tàng nghệ thuật Quân sự Việt
Nam những kinh nghiệm bước đầu về tác chiến hiệp đồng quân binh chủng trên quy
mô lớn.
Tháng 1/1973 đến tháng 6/1976 ông là Phó Bí thư Đảng uỷ, kiêm Tư lệnh Quân
khu 4. Là một người chỉ huy toàn năng, công thức “VAC” và kế hoạch phủ kín vành
xanh lương thực, thực phẩm vòng quanh doanh trại, điểm trú quân của ông đã góp phần
giúp bộ đội ta “ăn no, đánh thắng” không những trong điều kiện kinh tế khó khăn ngày
ấy mà ngay cả thời bình. Những “ao cá Quang Trung” ngày ấy bây giờ vẫn phát huy
tác dụng to lớn trong xây dựng môi trường sống, cải thiện bữa ăn cho bộ đội.
* CỦ SÂM VÀNG
Thiếu tướng Hoàng Sâm tên thật là Trần Văn Kỳ.
Ông sinh năm 1915 tại Lệ Sơn, Tuyên Hoá, Quảng Bình
trong một gia đình nông dân nghèo, phải bỏ quê tha
hương, cầu thực sang tận Na Khon, Chiềng Mai (Thái
Lan) làm thuê, làm mướn.
Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc từ Châu Âu về Thái
Lan hoạt động. Với cái tên Thầu Chín người lưu lại trong
nhà lương y Đặng Văn Cáp cạnh nhà bố mẹ Trần Văn Kỳ
nên Kỳ sớm trở thành người dẫn đường cho Thầu Chín
khi đi ra ngoài gặp gỡ bà con Việt Kiều. Công việc của
Thầu Chín ngày càng phải đi xa, thấy Kỳ tuy mới 12 tuổi
nhưng to khoẻ, nhanh nhẹn, thông minh nên cụ Cáp đã
chọn Kỳ đi theo Thầu Chín, vừa đi vừa học, vận động bà con Việt Kiều tham gia phong
trào yêu nước. Khi Thầu Chín rời Thái Lan, Trần Văn Kỳ được Người chọn làm liên
lạc chắp nối các tổ chức Việt Kiều yêu nước ở Thái Lan. Năm 1933, Trần Văn Kỳ được
kết nạp vào Đoàn Thanh niên cộng sản và sau đó được kết nạp vào Đảng cộng sản
Đông Dương. Năm 1934, Trần Văn Kỳ bị mật thám ở Thái Lan bắt và giao cho lãnh
sứ quán của Pháp ở Thái Lan tra xét. Sau gần một năm giam giữ, vì không tìm ra chứng
cứ, chúng phải thả và trục xuất ông về nước. Ông được tổ chức ở Thái Lan bí mật tạo
điều kiện cho sang Quảng Châu (Trung Quốc). Năm 1940, ông gặp lại Thầu Chín và
được Người gửi vào Trường Quân sự Bội Công. Người còn đặt cho Trần Văn Kỳ cái
tên mới là Hoàng Sâm (củ sâm vàng) để ghi nhớ những ngày sống trong nhà

4 Page 4

▲back to top
thuốc lương y Trần Văn Cáp ở Thái Lan vừa mong muốn Trần Văn Kỳ sẽ như vị thuốc
quý cứu rỗi đồng bào đang lầm than nô lệ.
Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập.
Hoàng Sâm được chỉ định làm Đội trưởng trực tiếp chỉ huy giành chiến thắng Phai
Ngắt, Nà Ngần, Đồng Mu.
Năm 1948 Hoàng Sâm được phong quân hàm cấp Thiếu tướng (đợt đầu tiên của
quân đội ta).
Cuối năm 1967, trước sự phát triển của chiến trường miền Nam, ông được bổ
nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Trị Thiên - Huế.
Tháng 12/1968, ông đã anh dũng hy sinh tại chiến trường Trị Thiên - Huế ở tuổi
đời 53.
* TÊN CHÚ CỐNG HIẾN
CHO NGÀY MAI
Bí thư Đảng ủy, Chính ủy
Quân khu 4 từ 1965 đến 1967, cố
Trung tướng Lê Hiến Mai còn có
tên khác là Dương Quốc Chính và
tên thật là Nguyễn Văn Phường,
sinh ngày 23/11/1918 ở xã Mỹ
Lộc, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn
Tây cũ nay là xã Mỹ Lộc, huyện
Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Ông
là một trong những cán bộ được
phong quân hàm Thiếu tướng đợt
đầu tiên của Quân đội (tháng
8/1948). Trong lễ phong Quân hàm, Bác Hồ vừa trao Quyết định vừa nói với ông và
mọi người: Bác cải lại tên chú là Lê Hiến Mai là cống Hiến thật nhiều cho ngày Mai
tươi sáng của đất nước.
* DANH TƯỚNG HAI MẠNH
Đại tướng Chu Huy Mân, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nguyên Phó
bí thư Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tên thật là Lê Văn Điều.
Ông sinh năm 1913 tại xã Yên Lưu, tổng Yên Trường phủ Hưng Nguyên (nay là xã
Hưng Hòa, TP Vinh). Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1929 trong phong
trào Xô - Viết Nghệ - Tĩnh, là đội trưởng đội tự vệ Đỏ Yên Lưu. Ông được kết nạp vào
Đảng tháng 5/1930 vì thế ông là tướng lĩnh Quân đội đầu tiên được nhận huy hiệu 70
năm tuổi Đảng.

5 Page 5

▲back to top
Cuộc đời binh nghiệp của Đại tướng Chu Huy Mân gắn bó với chiến trường Việt
Bắc, chiến trường Lào, chiến trường Quân khu 4, chiến trường Quân khu 5.
Với chiến trường Quân khu 4 ông hai lần đảm nhiệm trọng trách Bí thư Đảng
ủy, Chính ủy Quân khu. Lần 1, từ 1/1957 đến 12/1957,
lần 2 từ tháng 2/1961 đến tháng 1/1962 ông còn kiêm
chức Tư lệnh Quân khu.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng ông mang
nhiều cái tên khác nhau nhưng cái tên mà ông và đồng
đội ông yêu quý nhất là "Hai Mạnh" - cái tên Bác đặt
cho ông. Cuối tháng 6/1967, trong lúc triển khai chuẩn
bị chiến dịch Đắc Tô, cấp trên gọi ông ra Hà Nội kiểm
tra sức khỏe vì sốt rét nhiều, gan có vấn đề. Từ Tây
Nguyên, ông sang Nông Pênh với hộ chiếu Hồ Thạch
Châu - doanh nhân, bay sang Quảng Châu, về Hà Nội.
Mấy hôm sau báo cáo tình hình với Bác Hồ.
Sau khi nghe ông báo cáo, Bác Hồ hỏi: Chú ở Tây Nguyên làm cả nhiệm vụ chỉ
huy và công tác chính trị phải không?
Ông thưa với Bác: Quân ủy Trung ương và Tổng cục Chính trị chưa có cán bộ
thay, cháu phải làm tạm cả hai nhiệm vụ.
Bác Hồ nói với tinh thần khẳng định và động viên: Chú chịu khó gánh cả hai vai
cho khỏe càng tốt.
Về đến Tây Nguyên, sau khi nghe ông nói lại câu chuyện, đồng chí thư ký Trần
Quế liền nói đổi bí danh của ông từ Hồ Thạch Châu sang “Hai Mạnh”. Từ đó trong các
điện và công văn, ông đều ký tên “Hai Mạnh".
Cái tên Hai Mạnh đã trở thành mục tiêu rèn luyện, phấn đấu không ngơi nghỉ
của Đại tướng Chu Huy Mân. Là vị tướng nhiều lần được giao nhiệm vụ vừa là người
lãnh đạo vừa là người chi huy nhưng Ông đã không phụ lòng tin của Bác. Trên các
cương vị Bí thư Đảng đoàn Ban cán sự kiêm đoàn trưởng ở Lào Tư lệnh (Quân sự)
kiêm chính ủy (Chính trị) ở Quân khu 4 ở mặt trận B5 Tây Nguyên (8/1965 – 2/1975),
Quân khu 5 (1975 – 1976) ông và đồng đội ông luôn “mạnh về chính trị” trung thành
vô hạn, chiến đấu kiên cường, “mạnh về quân sự”, dũng cảm, mưu trí, dám đánh, quyết
đánh và luôn đánh thắng.
Nguồn: Báo điện tử Quân khu 4, ngày 11/10/2020