Gia Dinh thanh thong chi

Gia Dinh thanh thong chi

1 Page 1

▲back to top
TRỊNH HOÀI ĐỨC. Gia Định thành thông chí / Trịnh Hoài Đức // Biên Hòa
xưa. – Nxb. Đồng Nai, 2012. – Tr.14-17.
Trịnh Hoài Đức là nhà văn hóa lớn nhất miền Nam, cả cuộc đời gắn bó máu
thịt với đất Đồng Nai – Gia Định. Ông mang trong mình hai dòng máu Việt – Hoa,
nhưng Trấn Biên đã là quê hương ông từ thuở lọt lòng, năm Ất Dậu (1765). Ông
xuất thân từ một gia đình khoa bảng, cụ nội tổ Trịnh Hoài Đức đến miền Nam nước
Việt từ đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648–1687), lúc đầu là Phú Xuân, sau chuyển
vào Trấn Biên, người cha tên là Trịnh Khánh, có tiếng văn hay chữ tốt. Ông tên là
Trịnh Khánh thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738–1765) làm quan tới chức Chấp
canh tam trường cai đội. Năm Trịnh Hoài Đức lên 10, ông Trịnh Khánh mất. Trong
thơ sau này, Trịnh Hoài Đức tả, ông đã đi nhiều nơi, được mẹ cho học chữ với các
vị sư sãi.
Rời Trấn Biên, Trịnh Hoài Đức về ngụ tại Phiên An (sau này là tỉnh Gia Định).
Ở đây, ông theo học cụ Võ Trường Toản, nhà giáo nổi tiếng nhất đương thời.
Năm Mậu Thân (1788), chúa Nguyễn Phúc Ánh cho mở khoa thi để chọn nhân
tài. Đây là kì thi đầu tiên của cả vùng đất Nam bộ. Các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô
Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, vốn là bạn bè của nhau, cùng thi đỗ và được bổ làm
chức Hàn lâm viện chế cáo. Năm 1793, Trịnh Hoài Đức được cử làm Đông cung thị
giảng, chức quan lo việc dạy học cho hoàng tử, theo Đông cung Hoàng tử Cảnh ra
trấn nhậm thành Diên Khánh (nay là tỉnh Khánh Hòa). Năm 1794, Trịnh Hoài Đức
được điều về Gia Định, giữ chức Điền tuấn quan, trông coi việc khai khẩn đất đai.
Sau đó không lâu, ông được thăng chức Hữu tham tri bộ Hộ, rồi Thượng thư bộ Hộ.
Trước khi lên ngôi hoàng đế (1802), chúa Nguyễn Phúc Ánh đã cử phái đoàn
đi sứ nhà Thanh. Trịnh Hoài Đức được cử làm Chánh sứ, cùng với Tham tri bộ Binh
Ngô Nhân Tịnh, Tham tri bộ Hình Huỳnh Ngọc Uẩn – những người bạn đồng liêu.
Đi sứ về, Trịnh Hoài Đức vẫn giữ chức Thượng thư bộ Hộ cho đến năm 1805
(Ất Sửu) thì được vua phái vào Nam, giữ chức Hiệp hành Gia Định lưu trấn. Ba năm
sau, được thăng Hiệp trấn thành Gia Định, tức vị quan thứ hai ở cả vùng đất Nam bộ
lúc bấy giờ.
Năm Nhâm Thân (1812), Trịnh Hoài Đức về lại kinh sư, giữ chức Thượng thư
bộ Lễ, kiêm Quản Khâm thiên giám. Năm sau, ông sang giữ chức Thượng thư bộ
Lại (tương đương như Bộ Nội vụ ngày nay). Lúc Tổng trấn Gia Định thành là
Nguyễn Văn Nhân bị triệu về kinh (1820), Trịnh Hoài Đức được cử thay chức vụ.
Khi Minh Mạng lên ngôi, ông được mời về kinh trông coi bộ Lại như trước và kiêm

2 Page 2

▲back to top
Phó tổng tài Quốc sử quán. Không lâu, nhà vua thăng ông lên Hiệp biện Đại học sĩ,
lãnh cả hai chức Thượng thư bộ Lại và bộ Binh (tương đương Bộ Quốc phòng). Thật
hiếm có một người nào được trọng dụng, giữ những chức vụ quan trọng trong triều
như Trịnh Hoài Đức.
Mùa thu năm 1823 (Quý Mùi), Trịnh Hoài Đức dâng sớ xin nghỉ vì sức khỏe.
Vua đành lòng phải thuận, nhưng sau đó lại mời ra nhậm chức cũ. Thấy sức khỏe
càng lúc càng yếu đi, Trịnh Hoài Đức lại xin cáo quan. Ông mất sau đó hai năm, Ất
Dậu (1825), lúc mới 61 tuổi.
Trịnh Hoài Đức mất, nhà vua đã cho bãi triều ba ngày và truy tặng là Thiếu
phó Cần chánh điện Đại học sĩ, ban tên thụy là Văn Khác. Đám tang ông được tổ
chức trọng thể. Vua Minh Mạng còn phái Hoàng thân Miên Hoàng đưa thi hài Trịnh
Hoài Đức về chôn tại quê nhà, làng Bình Trước, huyện Phước Chánh, phủ Phước
Long, tỉnh Biên Hòa (nay là phường Trung Dũng, Biên Hòa). Năm 1852, bài vị ông
được thờ ở miếu Trung hưng công thần, nơi thờ tự bậc có công nhất đối với vương
triều. Sang năm 1858, bài vị Trịnh Hoài Đức lại được đem về thờ ở đền Hiền Vương.
Cuộc đời làm quan của Trịnh Hoài Đức thật vinh hiển, ít người sánh được.
Nhưng ông không chỉ là vị quan to mà còn là nhà văn hóa lớn.
Năm 1805, khi đang làm quan ở thành Gia Định, Trịnh Hoài Đức được vua
Gia Long sai “kê khảo sự tích, cương vực, thổ sản trong địa hạt”. Nhân đó, ông đã
viết bộ sách quý Gia Định thành thông chí, một công trình có giá trị cao về địa dư,
lịch sử, văn hóa của cả vùng đất phương Nam. Những hiểu biết sâu sắc và toàn diện
về Nam bộ một thời cho đến nay vẫn không có cuốn sách nào có thể thay thế Gia
Định thành thông chí. Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam bộ không lâu,
Bộ trưởng Hải quân và thuộc địa Pháp, Chasseloup, đã ra lệnh dịch và xuất bản bằng
tiếng Pháp cuốn địa chí này.
Trong vòng năm mươi năm cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX, ở Nam bộ có
ba nhà thơ tài danh nhất: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định. Ba
ông đã họp thành nhóm Gia Định tam gia, từ văn đàn của mình là Bình Dương thi
xã (có thêm các thành viên là Hoàng Ngọc Uẩn và Diệp Minh Phụng). Riêng sáng
tác của Trịnh Hoài Đức có tập thơ Cấn Trai thi tập gồm 5 phần: Thối thực truy biên
tập (127 bài thơ); Quan quang tập (152 bài thơ); Khả dĩ tập (gồm 48 bài thơ và văn
xuôi) và Tự truyện (gồm những ghi chép của nhà thơ về gia đình, bước hoạn lộ, đi
sứ, tự bạch về sáng tác...).
Nổi bật trong văn chương Trịnh Hoài Đức là tình yêu sâu nặng đối với quê
hương, đất nước. Ông đã viết khá nhiều bài thơ về từng vùng quê cụ thể: Trấn Biên,

3 Page 3

▲back to top
Gia Định, Hà Tiên... Cùng với quê hương, cuộc sống bình thường đã đi vào thơ văn
Trịnh Hoài Đức vừa ngọt ngào, thân thuộc vừa thiết tha, yêu thương.
Tuy làm quan to nhưng Trịnh Hoài Đức luôn là người ưu thời mẫn thế, sống
gắn bó với dân nghèo và kì vọng ở một tương lai tốt đẹp sẽ đến với nhân dân và đất
nước. Chính vì thế đương thời đại thi hào Nguyễn Du, người sinh cùng năm với
Trịnh Hoài Đức, khi đọc thơ của nhóm Bình Dương thi xã đã ghi nhận xét là một
chữ diệu, tức trên cả mức hay, đạt đến độ tuyệt vời.
Văn bản sau đây được trích các phần: Sơn xuyên chí (ghi chép về núi sông);
Cương vực chí (ghi chép về bờ cõi); Phong tục chí (ghi chép về phong tục); Sản vật
chí (ghi chép về sản vật) và Thành trì chí (ghi chép về thành trì) của trấn Biên Hòa
ở sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, bản dịch của Lý Việt Dũng
(Nxb Đồng Nai, 2005).