Tran quyet tu cua dai doi phong khong

Tran quyet tu cua dai doi phong khong

1 Page 1

▲back to top
TRẬN QUYẾT TỬ CỦA ĐẠI ĐỘI PHÒNG KHÔNG
PHẠM QUANG ĐẨU
Đầu tháng 5-1994, trong một chuyến bay từ Hà Nội lên Điện Biên, mấy dãy
ghế hành khách trong khoang máy bay đều là của người nhà liệt sĩ Nguyễn Viết Quỳ,
nguyên Đại đội trưởng Đại đội 78, Tiểu đoàn Phòng không 387, Đại đoàn 308.
Nguyễn Viết Quỳ sinh năm 1929 tại Việt Trì
(Phú Thọ), nhưng quê gốc ở Ước Lễ, Thanh Oai,
Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông nhập ngũ năm
1946, học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Ở Khu
di tích Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, sau khi
chiến dịch kết thúc, chỉ có 4 ngôi mộ ở Nghĩa trang
Liệt sĩ A1 là ghi tên tuổi các anh hùng đã được
tuyên dương công trạng. Đó là Anh hùng Bế Văn
Đàn lấy thân mình làm giá súng; Tô Vĩnh Diện hy
sinh thân mình cứu pháo; Phan Đình Giót lấy thân
mình lấp lỗ châu mai; Trần Can dũng cảm làm nổ
tung hầm ngầm của địch. Buổi đầu lên đây, các chị
em của liệt sĩ Nguyễn Viết Quỳ đã đi khắp cả 3
nghĩa trang trong khu di tích, chỉ thấy trước mặt
hàng hàng bia mộ trắng toát một màu, có gắn
những ngôi sao năm cánh giống hệt nhau. Lúc đó
không tìm được mộ người thân, ai cũng tủi thân bật
khóc. Nhưng rồi họ không nản lòng. Bắt đầu từ đây, có một cuộc hành trình âm thầm, bền
bỉ trong nhiều năm để tìm tên trên bia mộ của các liệt sĩ.
Các cựu chiến binh của Ban liên lạc Tiểu đoàn Phòng không 387 đã kể lại giờ phút
hy sinh anh dũng của các liệt sĩ: Trong chiến dịch lịch sử, Đại đội của Nguyễn Viết Quỳ
được bố trí gần sát sân bay Mường Thanh, đã làm quân Pháp mất ăn mất ngủ vì máy bay
của chúng không thể hạ độ cao để thả dù tiếp tế. Rạng sáng 28-3-1954, pháo và đạn cối
của địch từ Hồng Cúm nã tới tấp vào trận địa của Đại đội Phòng không 78. Phải đối mặt
với một tiểu đoàn lê dương từ Hồng Cúm nống ra, mà lúc đó các pháo thủ không được
trang bị súng bộ binh, Đại đội trưởng Nguyễn Viết Quỳ ra lệnh:
- Các khẩu đội hạ nòng. Bắn thẳng!
Trung đội 2 của Chu Mai khai hỏa đầu tiên, từng tràng đạn lửa thẳng căng từ nòng
khẩu 12,8mm tuôn về phía trước. Vệt lửa tóe hoa cà hoa cải trên chiếc xe tăng đi đầu,
song không đủ sức xuyên thủng lớp giáp thép dày của nó. Dù sao đòn phủ đầu cũng đã
làm một số tên lính lê dương chạy theo xe ngã gục, xe tăng khựng lại.

2 Page 2

▲back to top
Bắt đầu cơn mưa đạn bắn vào trận địa phòng không, có thêm đạn cối các loại của
địch nổ dồn dập. Đại đội trưởng Nguyễn Viết Quỳ nhô hẳn người lên khỏi mặt hào, hô
vang:
- Chuẩn bị lựu đạn!
Rồi một khẩu trọng liên của Trung đội 2 đỏ rực nòng, không còn đạn bắn ra nữa.
Thêm các khẩu trọng liên ở những trung đội khác khạc lửa và đạn cũng cạn dần. Nhiều
tên lính lê dương đổ gục, song chiếc xe tăng vẫn tìm cách chồm vào trận địa phòng không.
Đột nhiên có quả đạn cối 81mm nổ cạnh hào chỗ Đại đội trưởng đang đứng chỉ huy. Khói
bụi mịt mù trùm lên, không nghe tiếng anh nữa. Chính trị viên Ngô Hạnh Phúc hô to:
- Đồng chí Bàng thay đồng chí Quỳ chỉ huy!
Đạn cối, moochie lại nổ dồn dập. Nghe rõ cả tiếng những tên lính lê dương xì xồ,
la hét điên cuồng. Chiến xa Chaffee tăng tốc chồm qua chiến hào. Bỗng đồng chí Bàng
ôm ngực lảo đảo, bàn tay đỏ máu. Cũng không còn nghe tiếng Chính trị viên Ngô Hạnh
Phúc.
Giờ các pháo thủ còn sống sót đều bị thương; Đại đội trưởng Nguyễn Viết Quỳ
đang đứng gục đầu trên chiến hào, máu thấm đỏ mảng áo ngực; Chính trị viên Ngô Hạnh
Phúc thì bị vết thương vào đầu nằm ngửa ở đáy hào, hai tay dang ra. Hết lựu đạn, đánh
giáp lá cà! Những chiếc xẻng, xà beng, cuốc chim được chia đều cho những người còn
lại...
Các khẩu đội phòng không đã chiến đấu đến người cuối cùng, chỉ có hai người
sống sót do bị thương nằm lẫn với thi thể quân ta và địch...
Ngày ấy, khi những người thân của liệt sĩ Nguyễn Viết Quỳ tìm đến một nghĩa
trang ở khu vực Hồng Lếch thì dân địa phương cho biết, vào khoảng năm 1960, tất cả
phần mộ ở đây đã được quy tập về nghĩa trang chung, song không biết cụ thể ở nghĩa
trang nào.
Ông Nguyễn Viết Quý, em trai của liệt sĩ Nguyễn Viết Quỳ nhớ lại quá trình đi tìm
mộ anh trai mình:
- Năm 1965, sau khi tốt nghiệp đại học, tôi được phân công về Ty Nông nghiệp Lai
Châu. Trước lúc lên đường nhận công tác, bố mẹ dặn dò tôi lên đấy có điều kiện gần nơi
chiến trường xưa của anh Quỳ, cố tìm xem ngôi mộ anh cụ thể nằm ở đâu. Nơi tôi làm
việc cách trung tâm cánh đồng Mường Thanh hơn 100km, đường sá khó đi, đèo dốc liên
tục, lại không có xe khách, muốn đi thì phải cuốc bộ hoặc đi xe đạp. Có lần tôi đã về vùng
lòng chảo Mường Thanh, đến cả 3 nghĩa trang, nơi chôn cất mấy nghìn liệt sĩ, nhưng tất
cả đều là những ngôi mộ chưa biết tên. Đến cuối năm 1993, đã có một manh mối từ chị
gái tôi là Nguyễn Thị Ngọc Chúc. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu
trả lời, có tên tuổi liệt sĩ Nguyễn Viết Quỳ cùng các pháo thủ hy sinh ngày 28-3 đúng như
trong giấy báo tử. Thế là nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, chúng tôi
lên Điện Biên. Một cán bộ chính sách của Sở sau khi lục tìm trong hồ sơ lưu, đưa cho tôi
một quyển vở cũ, bảo là trong đó có ghi danh sách liệt sĩ an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ
Độc Lập. Tôi hồi hộp mở cuốn vở, trang đầu vẽ sơ đồ mộ chí, bên cạnh là những dòng

3 Page 3

▲back to top
viết tay thứ tự số mộ. Lật sang trang hai, tôi như không tin vào mắt mình: Tên anh Nguyễn
Viết Quỳ ghi ở dòng đầu tiên, số thứ tự 1, tiếp đến là các liệt sĩ khác, anh Ngô Hạnh Phúc
số thứ tự 25, cũng tức là số mộ 25. Chúng tôi mang theo bản sao danh sách cùng sơ đồ
khu mộ các liệt sĩ ra ngay Nghĩa trang Liệt sĩ Độc Lập. Khu mộ 35 liệt sĩ chuyển từ Hồng
Lếch về, nằm ngay đầu cổng chính đi vào và cuộc quy tập lần này vẫn bố trí các mộ theo
đúng thứ tự như trong sơ đồ mà tôi có. Chúng tôi đến bên mộ anh Nguyễn Viết Quỳ thắp
hương, không ai kìm được nước mắt. 40 năm giờ mới biết được nơi anh yên nghỉ...
Các cựu chiến binh của Tiểu đoàn Phòng không 387 còn cho biết, nơi diễn ra cuộc
chiến đấu không cân sức ngày ấy, nay đã mọc lên ngôi trường trung học cơ sở khang
trang, thuộc xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên. Khu di tích sẽ hoàn chỉnh biết bao nếu tại
mảnh đất thấm đẫm máu các liệt sĩ phòng không có thêm tấm bia tưởng niệm, ghi lại trận
chiến đấu ngày 28-3-1954 giữa các khẩu đội của Đại đội Phòng không 78 với tiểu đoàn
lê dương Pháp có xe tăng, pháo mặt đất yểm trợ tối đa. Tinh thần quyết tử để Tổ quốc
quyết sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong giờ phút bi tráng ấy sẽ còn sống mãi trong lòng các
thế hệ hôm nay và mai sau!
Nguồn: Sự kiện và Nhân chứng, số 365, tháng 5 năm 2024. Tr. 22-23